Quyết định này vừa được đưa ra tại phiên họp toàn thể thường niên Ủy ban Ký ức Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO tại Macau, Trung Quốc. Đây là tin vui vô cùng có ý nghĩa với Thủ đô trước thềm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Các văn bia tiến sĩ tại Văn Miếu được hình thành trải dài từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, nhằm vinh danh tên tuổi những người đỗ trong các kỳ thi tuyển Tiến sĩ triều Lê và Mạc. Có 82 tấm bia tương ứng với 82 khoa thi được dựng. Văn bia đầu tiên được khởi dựng năm 1484 và tấm cuối cùng là năm 1779.
Trên mỗi tấm bia khắc một bài văn (bài ký) bằng chữ Hán, nội dung ghi lại lịch sử của các khoa thi tổ chức từ năm 1442 đến 1779. Đặc biệt, tất cả 82 bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội đều được chế tác theo cùng phong cách bia dẹp, trán cong, hình vòm. Các tấm bia được đặt trên lưng rùa, rùa cũng được tạo dáng theo một phong cách to, đậm và chắc khỏe.
Theo nhận định của các chuyên gia, bia đá các khoa thi Tiến sĩ triều Lê-Mạc (1442 - 1779) tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám là những tấm bia Tiến sĩ duy nhất ở Việt Nam và thế giới có bài ký ghi lịch sử các khoa thi và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài. Đó là dấu ấn của một phần tinh hoa trí tuệ và truyền thống hiếu học Việt Nam, là tấm gương muôn đời về tinh thần khổ luyện thành tài của nhiều thế hệ học trò.
Theo ông Đặng Kim Ngọc, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, người trực tiếp tham gia xây dựng dự thảo hồ sơ, nhiều nơi cũng có bia Tiiến sĩ như ở Huế (Thừa Thiên - Huế), Bắc Kinh (Trung Quốc), Nhật Bản nhưng chỉ duy nhất bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám là có bài ký trên bia (văn bia). Các bài văn bia đều do những danh nhân văn hóa, trí thức lớn của đất nước soạn, nên về cơ bản đó là những tác phẩm văn học vô giá. Ngoài ra, mỗi tấm bia là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tinh tế được chạm khắc khác nhau và cách trang trí cũng thay đổi theo từng thời kỳ, nhờ đó mà hiểu được lịch sử phát triển mỹ thuật của nước ta từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Chính những điểm đó đã khẳng định tính độc đáo và duy nhất của bia Tiến sĩ ở Văn Miếu so với bia các nơi khác. Hơn nữa, 82 bia Tiến sĩ từ khi được dựng cho đến nay vẫn nằm tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, các bài văn bia ghi rõ ngày, tháng dựng, tên người được vinh danh, người soạn văn bia, người dựng bia. Điều này khẳng định tính xác thực, nguyên bản, duy nhất của tư liệu.
Cho đến nay, Bia Tiến sĩ Văn Miếu vẫn là những bản gốc duy nhất được lưu giữ tại chỗ, liên tục kể từ khi được dựng; phần lớn các hoa văn và văn tự còn rõ, có khả năng đọc được.
Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, đây là tư liệu văn tự nguyên gốc, độc bản, chỉ có một mà thôi nên hết sức quý giá. Nhà sử học có thể tìm thấy ở đây tên tuổi gắn bó với lịch sử dân tộc, quê quán, danh tính những bậc nhân tài được ghi cụ thể, chính xác thông qua đó có thể xác định tuổi cho nhiều di tích ở những nơi không ghi niên đại. Nhà địa lý có thể tra cứu những địa danh cũ để tìm ra những vùng đất cổ liên quan đến thời hiện tại. Nhà nghiên cứu triết học có thêm những chứng cứ để khảo sát vai trò cũng như diễn tiến của Nho học ở Việt Nam. Nhà nghiên cứu mỹ thuật và các nghệ sĩ tạo hình có thể từ những hình dáng bia, rùa, hoa văn và các mô típ chạm khắc trên bia mà tìm ra tinh hoa của nghệ thuật dân tộc để phát huy, áp dụng vào những sáng tạo hiện đại.
Các nhà khoa học đều cho rằng, văn bia Tiến sĩ ở Văn Miếu xứng đáng được coi là pho “sử đá” có nhiều giá trị độc đáo và hiếm có về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật chế tác... không chỉ với Việt Nam mà cả thế giới.
Trước bia đá các khoa thi Tiến sĩ triều Lê-Mạc (1442 - 1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Việt Nam đã có Mộc bản triều Nguyễn được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới vào ngày 30/7/2009.
Chương trình "Ký ức thế giới" (Memory of the World) của UNESCO ra đời từ năm 1993 và đến nay đã có 193 di sản được vinh danh. Mục đích của chương trình là để ghi nhận các di sản thuộc dạng tư liệu (Documentary Heritage) trên thế giới, đó có thể là cuốn sách, bộ phim, bức ảnh, giọng nói (băng ghi âm) hay bút tích. Để được UNESCO công nhận thì di sản phải là tư liệu duy nhất, xác thực, độc đáo, có sự tác động, lan tỏa rộng và đang đứng trước nguy cơ mai một. /.
Theo Toquoc.vn