Bài 1: Giải pháp xây dựng phát triển các sản phẩm du lịch khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Phát triển sản phẩm du lịch
Tại hội thảo, các đại biểu đã chỉ rõ những tiềm năng và lợi thế của khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) về sông ngòi, hệ sinh thái rừng ngập mặn nét văn hoá độc đáo… Nhưng chính những lợi thế như vậy lại tạo nên sự trùng lặp về sản phẩm của du lịch. Vậy đâu là chung chung giải pháp để phát triển du lịch vùng trong tương lai? Theo thống kê của Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch), lượng khách du lịch quốc tế đến với ĐBSCL chiếm 15 % của cả nước. Trong đó, 95% du khách do các doanh nghiệp lữ hành ngoài vùng (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) đưa đến, khả năng thu hút trực tiếp khách của doanh nghiệp lữ hành ĐBSCL rất yếu. Hiện tại các doanh nghiệp lữ hành trong vùng chủ yếu kinh doanh khách nội địa, đưa người Việt Nam ra nước ngoài đi du lịch. Thống kê của Vụ Lữ hành cũng cho thấy, tại 13 tỉnh thành trong khu vực chỉ có 18 doanh nghiệp lữ hành quốc tế. Ngay tại TP. Cần Thơ chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp.
Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh đã có sự gợi mở: so với các vùng, miền trong cả nước như miền Bắc thì mùa đông trời lạnh xuống 50C, miền Trung thì thất thường mưa bão, trong khi đó khu vực ĐBSCL về khí hậu thuận lợi quanh năm. Nên chăng, các nhà quản lý du lịch địa phương và các doanh nghiệp của ĐBSCL cần tạo ra sản phẩm du lịch 4 mùa cho các đối tượng du khách khác nhau.
Đứng ở góc độ nghiên cứu lý luận Ngành, PGS.TS. Phạm Trung Lương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch nhìn nhận: với tư cách là một điểm đến thống nhất trên bản đồ du lịch quốc gia, cần phát triển du lịch đặc thù được xác định trên cơ sở và căn cứ vào đặc điểm tài nguyên du lịch vùng ĐBSCL. Nhóm sản phẩm du lịch đặc thù của vùng cần được tập trung nghiên cứu và phát triển là du lịch sinh thái, trong đó chú trọng khai thác các giá trị cảnh quan, sinh thái của hệ sinh thái đất ngập mặn ở các vườn quốc gia. Cùng với đó khai thác các giá trị cảnh quan hệ sinh thái đất ngập nước nội địa và ven biển ĐBSCL cho phát triển du lịch sẽ không chỉ tạo nên sự khác biệt về sản phẩm du lịch giữa vùng ĐBSCL với sản phẩm du lịch của các vùng lãnh thổ khác mà còn góp phần tạo nên sự khác biệt của sản phẩm du lịch Việt Nam với các quốc gia trong cùng khu vực. Ngoài ra, những giá trị văn hóa lịch sử nổi trội của vùng như đờn ca tài tử gắn với đời sống sông nước của các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long…; cũng như hệ thống chùa gắn với lễ hội đồng bào Khmer ở Trà Vinh, lễ hội núi Sam ở An Giang, những cảnh quan biển đảo ở Phú Quốc – Kiên Giang cần được chú trọng khai thác hợp lý để tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù, có sức cạnh tranh giữa các địa phương.

Chèo thuyền trên kênh tại cù lao Thới Sơn, Tiền Giang
TS. Đinh Văn Hạnh, Phân viện Văn hóa nghệ thuật tại TP. Hồ Chí Minh cho rằng: cần tổ chức tour du lịch văn hóa theo sông Mê Kông bằng tàu cao tốc từ châu thổ ĐBSCL lên Campuchia, du khách thưởng ngoạn những di tích, danh thắng hai bên bờ Mê Kông sẽ rất lý thú và hấp dẫn. Theo TS. Hạnh, một tour như vậy xứng đáng với tầm vóc Mê Kông mà Việt Nam đang sở hữu phần quan trọng nhất. “Hành trình khám phá Mê Kông” là tour chủ đạo, cùng với đó là những tour nhỏ hơn, lan tỏa khắp ĐBSCL mà ở đó mỗi tỉnh đều giữ một vị trí đầu mối như những điểm nhấn, những hạt nhân gắn kết của hành trình.
Ông Phan Đình Huệ, Giám đốc công ty Du lịch Vòng tròn Việt cho rằng, du khách đến với các tỉnh miền Tây, mới chỉ đi coi là chính chứ chưa có nhu cầu nghỉ dưỡng, bởi vì sản phẩm du lịch không có gì nhiều. Nên chăng các tỉnh ĐBSCL cần có sự liên kết để xây dựng các trung tâm nghỉ dưỡng cũng như các khu du lịch lưu trú dài ngày để du khách trải nghiệm cuộc sống vùng sông nước ĐBSCL. Ông Huệ cũng khuyến nghị, khi xây dựng và làm tour cho mỗi đối tượng khách, ví dụ như Nhật Bản nên có những dịch vụ mang đặc trưng của người Nhật thì họ mới lưu trú dài ngày và hài lòng với dịch vụ tại nước sở tại mà họ đến.
Phát triển hạ tầng Du lịch để phát triển du lịch bền vững
Để phát triển du lịch một cách bền vững, điều đòi hỏi đầu tiên là cơ sở hạ tầng du lịch phải được đáp ứng đầy đủ, tạo sự thuận lợi cho du khách, cụ thể như đường giao thông, cơ sở lưu trú, bến tàu và phương tiện lưu chuyển phải được vận hành và đảm bảo một cách thông suốt.
Ông Hồ Việt Hà, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ VH,TT&DL) phân tích: nguồn vốn hộ trợ từ ngân sách Nhà nước và nguồn vốn ODA đã thu hút hàng ngàn tỷ đồng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực du lịch. Nhiều khu du lịch đã được đầu tư xây dựng, cụ thể như khu du lịch sinh thái Đất Mũi (Cà Mau), khu du lịch biển Ba Động (Trà Vinh)… nhằm tạo sự phát triển dựa trên thế mạnh của từng tỉnh, từng địa bàn trong vùng, tạo ra những sản phẩm đặc thù, độc đáo và mở ra khả năng kết nối các sản phẩm nội vùng, liên vùng, liên quốc gia trong những chương trình du lịch hấp dẫn. Bên cạnh đó, cần khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng gắn du lịch với xóa đói giảm nghèo, đồng thời kêu gọi đầu tư xây dựng các dự án về du lịch có quy mô và chất lượng quốc tế, từ đó hình thành thương hiệu “Du lịch đồng bằng sông Cửu Long”.
Tại hội thảo, nhiều đại biểu cho rằng trong những năm tới, để nâng cao hơn nữa hiệu quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho du lịch ĐBSCL, Tổng cục Du lịch cần tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch, đặc biệt quy hoạch của từng khu du lịch quốc gia trong vùng để làm cơ sở cho định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch; ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước đầu tư đồng bộ vào một số khu, điểm du lịch quốc gia có vai trò là “hạt nhân”, thúc đẩy du lịch của cả vùng. Một số đại biểu cũng nhìn nhận, việc đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch nhằm nối tour, tuyến cũng như du lịch của vùng, khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nhưng có tiềm năng thu hút các nhà đầu tư du lịch trong và ngoài nước, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và phát triển du lịch ĐBSCL bền vững.
(Còn nữa)
Hồng Nghệ