Văn hóa có vai trò quan trọng để phát triển du lịch
Tiềm năng văn hóa là giá trị của toàn bộ những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn. Đó là những cảnh quan tự nhiên ấp ủ một truyền thuyết, một nỗi niềm, một bản lĩnh, một tư duy; là những di tích lịch sử, những lễ hội, những làng nghề thủ công cổ truyền, những trò vui dân gian… những cách thức ăn mặc, nói năng; những phong tục tập quán, tóm lại tất cả là những gì đã tạo nên một bản sắc văn hóa riêng của một địa phương, một khu vực. Thông qua các giá trị vật thể như di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc… và các giá trị phi vật thể như: nghệ thuật truyền thống, phong tục tập quán, tâm hồn cốt cách của con người, văn hóa có sức thu hút con người tìm đến với nhau để khám phá, chiêm nghiệm. Sức thu hút đó chính là cơ sở của ngành Du lịch, vì du lịch xét đến cùng là một hoạt động của con người nhằm thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo ở một nơi khác bên ngoài nơi cư trú. Do đó, phát triển du lịch phần lớn là khai thác tiềm năng văn hóa để đem lại hiệu quả kinh tế, cũng có nghĩa là phát huy khả năng, phát triển kinh tế trên cơ sở khai thác tiềm năng văn hóa. Rõ ràng tiềm năng và tài nguyên du lịch văn hóa Hà Nội rất đa dạng, phong phú. Nội thành thì nhiều địa chỉ mà lắm người muốn và cần đến, ai cũng đã biết. Còn ngoại thành, nhất là vùng mới thêm vào thì cả một kho báu: núi non sông hồ với bao cảnh đẹp, huyền thoại, sự tích, nhân vật từng mê hoặc đồng bào cả nước. Nhưng ở Hà Nội các công trình do con người tạo nên để phục vụ hoạt động du lịch thì quá ít, công viên nước Hồ Tây thì chỉ hoạt động những ngày hè, phố ẩm thực thì thoi thóp, các công viên thưa thớt bóng người. Nhiều dự án có hàng chục năm nay vẫn mờ mờ ảo ảo: tuyến du lịch sông Hồng, khu Cầu Đôi, khu Sóc Sơn, khu Cổ Loa chưa vào đâu cả.
Thực ra việc khai thác di sản văn hóa phục vụ cho phát triển du lịch không phải là ý tưởng mới, song gần đây, khái niệm du lịch văn hóa mới được hình thành và phổ biến. Du lịch văn hóa được xem là một hiện tượng tổng thể của du lịch. Những cố gắng thu hút khách ở các điểm du lịch phải mang tính chất văn hóa. Những động cơ thúc đẩy khách đến các điểm du lịch chính là sự mong muốn được tiếp cận giá trị văn hóa. Văn hóa là nội lực bên trong của sự phát triển. Sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển của du lịch nói riêng không tách rời văn hóa.
Do văn hóa có vai trò hết sức quan trọng để phát triển du lịch như vậy, cho nên việc khai thác tiềm năng văn hóa phải gắn liền với việc giữ gìn, tôn tạo các tài nguyên này. Việc khai thác tiềm năng văn hóa không phải là công việc riêng của những người làm du lịch mà cần kết hợp với các nhà văn hóa cùng với sự trợ giúp của chính quyền và cộng đồng.
Các giải pháp chiến lược
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai ngành văn hóa và du lịch với quan điểm khép kín là: văn hóa là động lực phát triển du lịch, đồng thời du lịch (phát triển trên cơ sở văn hóa) đến lượt mình sẽ có tác dụng gìn giữ và duy trì các giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc.
Cần nắm đầy đủ các di tích danh thắng và đánh giá từng di tích để phân loại chúng theo các nhóm như những di tích vừa có giá trị văn hóa vừa có khả năng hấp dẫn du lịch; những di tích chỉ có giá trị đối với du lịch mà ít văn hóa hoặc ngược lại…
Cần xác định thị trường mục tiêu cho từng nguồn di sản (di tích, lễ hội, ẩm thực) trên địa bàn. Điều đó có nghĩa là cần nghiên cứu xem từng nguồn di sản phù hợp với những đối tượng tham gia du lịch khác nhau như thế nào.
Phối hợp quy hoạch du lịch với quy hoạch đô thị nhằm thống nhất các dự án xây dựng để không làm ảnh hưởng đến môi trường cảnh quan. Quy hoạch các di tích danh thắng trên cơ sở quy hoạch du lịch của Thủ đô Hà Nội sẽ đưa các di tích có giá trị trở thành các điểm tham quan du lịch đồng thời lồng ghép với kế hoạch tôn tạo và giữ gìn các di tích.
Cần có định hướng văn hóa trong kinh doanh du lịch tại các điểm di tích, danh thắng nhằm tránh thương mại hóa các di tích văn hóa và phong tục tập quán. Ngăn chặn các hiện tượng phi văn hóa trong kinh doanh du lịch tại các điểm di tích.
Cần có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển du lịch trên địa bàn. Quán triệt phương châm lấy văn hóa để phát triển du lịch và ngược lại phát triển du lịch để bảo tồn, duy trì bản sắc văn hóa.
Các giải pháp cụ thể
Tăng cường công tác tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng dân cư để nâng cao hiểu biết và trân trọng các di sản văn hóa, hiểu biết về lợi ích của phát triển du lịch và cả những mặt trái mà sự phát triển này có thể mang lại. Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch nhằm giới thiệu hình ảnh Hà Nội với các sắc màu văn hóa khác nhau thực sự quan trọng, có giá trị thu hút khách có nhu cầu thẩm nhận văn hóa từ các thị trường trong và ngoài nước. Cần có nhiều ấn phẩm với nhiều hình thức quảng cáo được bán ở nhiều nơi công cộng và điểm du lịch.
Nhưng tuyên truyền chỉ là bước khởi đầu. Quan trọng hơn là trong thực tế các di tích có đáng để khách du lịch xem không. Thực tế cho thấy ngoài vài di tích có tiếng ra, phần lớn các di tích khác cảnh quan còn đơn điệu, nội dung tham quan nghèo nàn, công trình, kiến trúc thì thấp thỏi bé bỏng, tuy nhiều nơi có lịch sử cả ngàn tuổi.
Để có thể lưu chân khách ở lâu hoặc sẽ quay lại, các công ty du lịch nên nâng cao chất lượng phục vụ, tạo ra những sản phẩm mới, phải có những Suối Tiên, Đầm Sen, những Đại Nam quốc tự. Hà Nội nay đâu có thiếu núi, sông hồ, chỉ cần biết kêu gọi đầu tư, công viên Yên Sở do Gamuda đầu tư chưa rõ ra sao, còn các khu resort chân núi Ba Vì thì manh mún bé bỏng, Cầu Đôi thì ngủ suốt, Sóc Sơn chưa ra gì. Một vấn đề đặt ra là để hấp dẫn du khách, ta cần tôn tạo các di tích theo chiều hướng xây dựng bổ sung cho di tích. Nói cụ thể hơn là xây thêm những công trình phụ trợ trong từng di tích để vừa góp phần làm đậm tính lịch sử của di tích lại vừa tăng giá trị thẩm mỹ, lôi cuốn khách tới xem. Tất nhiên là vấn đề không đơn giản. Vì có một thực tế là sau một thời gian dài chúng ta thả nổi di tích, coi thường di tích (lấy di tích làm nhà trường, nhà trẻ, nhà kho, thậm chí nhà ở). Khoảng chục năm nay, ta trở lại coi trọng di tích. Đó là điều rất mừng. Song từ chỗ coi trọng, chúng ta lại đi sang một cực khác là nệ cổ, muốn giữ nguyên hiện trạng di tích (chỉ tu sửa khi xuống cấp). Thực ra, di tích ở nước ta, chỉ nói về tác hại do khí hậu tạo nên, cứ khoảng bảy tám chục năm là phải sửa chữa hoặc làm lại, các cụ xưa gọi là trùng tu cho nên các đời trước việc trùng tu là hằng thường, mỗi lần trùng tu thường có thêm những công trình phụ trợ tức có việc xây dựng bổ sung như làm thêm nhà giải vũ, xây thêm tháp, thêm cầu, thêm bia và nhà bia… Do vậy, theo tôi để di tích đa dạng lên, khỏi đơn điệu, ta nên xây bổ sung, có thể làm thêm một số đình, tạ, nhà giải vũ, thậm chí tạo dựng một không gian mới – dĩ nhiên phải có căn cứ từ lịch sử hoặc truyền thuyết. Không kể các nước châu Âu, có một nền văn hóa vĩ đại với bao di tích đã trở thành sản phẩm du lịch sáng giá mà ngay ở châu Á, vốn là nơi mới phát triển ngành du lịch dăm chục năm nay thì như ở Thái Lan, Thủ đô Băng Cốc có ngôi chùa Vàng đẹp vậy mà trong khuôn viên chùa này vẫn xây thêm một số công trình bổ sung như các hành lang, các ngôi đền nhỏ… Mới gần đây họ còn dinh ngay vào khuôn viên đó một cái trống hình ống và làm một ngôi đình đặt trống ở giữa với lời thuyết minh khéo léo đã lôi cuốn du khách.
Hoặc ở Trung Quốc thì người ta xây bổ sung khá mạnh tay. Ngay ở khu vực Khổng Miếu - Khổng Lâm - Khổng Phủ ở Sơn Đông, có lịch sử trên 2.000 năm, mà nay người ta vẫn tiếp tục xây thêm những công trình phụ trợ để làm đẹp thêm di tích. Hay cung A Phòng ở Tây An đời Tần đã bị Hạng Võ đốt trụi từ 200 năm trước công nguyên đã không còn. Thế mà nay họ dựng lại một cung A Phòng cứ như là nó có từ đời Tần. Dù họ nói là dựng theo bài phú của Đỗ Mục, nhưng Đỗ là thi sĩ đời Đường thế kỷ thứ IX, sau khi cung A Phòng bị đốt tới gần 1.000 năm. Hoặc ở Tây hồ Hàng Châu, họ mới làm thêm nhiều lầu gác. Họ còn xây lại miếu Nhạc Phi, đúc lại tượng vợ chồng Tần Cối (tượng vốn có từ đời Tống thế kỷ thứ XI nhưng bị hỏng từ lâu) theo phong cách mỹ thuật hiện đại. Tượng Vương Thị (vợ Tần Cối) với bộ ngực nở nang cứ như tượng của Rodin.
Họ lại biết khai thác triệt để lịch sử. Ví như ở miếu Nhạc Phi, họ đắp hẳn một hoạt cảnh bà Nhạc Mẫu viết chữ trên lưng Nhạc Phi. Tượng đắp bằng kích cỡ người thật, thuyết minh khá hay, vừa xác đáng như lịch sử, lại vừa bay bổng chất men truyền thuyết dân gian (mới đây tôi sang lại đã thấy họ xây dựng thêm thắt nhiều). Hay ở Tô Châu, tại Hổ Khâu - mộ của Hạp Lư - chỉ nhân một cái giếng bé tí họ cũng khiến du khách phải dừng chân nghe họ thuyết minh về một sự tích li kỳ hay một viên đá hình quả trứng cũng được tạo thành một điểm dừng. Cứ thế, một gốc cây, một ngôi mộ cũng được đắp thêm cho một lý lịch tất nhiên là li kỳ để níu chân du khách.
Cho nên theo tôi, ta cần đổi mới lần nữa tư duy là giữ di tích lại nhưng phải xây dựng bổ sung cho di tích thêm đa dạng, phong phú. Lấy một ví dụ: ngôi chùa Hang ở Quán La nay chỉ một công trình kiến trúc bé nhỏ đơn điệu, nhưng nếu ta biết khai thác cái hang, đắp thêm sự tích cho nó (trên cơ sở tư liệu thư tịch cổ) vượt đất đắp cho gò thêm cao, trồng cây, có thể đào hồ thả sen, sau gò làm đài tạ trên đó. Cũng vậy, ở đền Sóc (huyện Sóc Sơn) muốn tăng sự hấp dẫn cần xây thêm nhiều công trình phụ trợ, đắp cho huyền thoại dày thêm lên nữa (kỳ thực huyền thoại cũng đã là sáng tác rồi, mà ngay lịch sử cũng không ít sự sáng tác mà các cụ đã gọi là dã sử). Tất nhiên, điều này liên quan đến Luật Di sản.
Có một vấn đề xin được nói thêm là việc quảng bá thương hiệu mà tất ai cũng biết là rất cần thiết. Du lịch Hà Nội nhiều năm qua đã có những đợt xúc tiến đáng kể với Trung Quốc, Pháp, Nga, Nhật, Đông Nam Á… nhưng xem ra sau các hội thảo, hội chợ, liên hoan thì đâu vẫn hoàn đấy (tất nhiên phải kể cả tác nhân suy thoái quốc tế).
Vì vậy, việc khai thác tiềm năng du lịch văn hóa Hà Nội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô, theo tôi cần phải được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa.
Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc