Tài liệu này hiện nằm trong bộ sách Ngự Chế Việt sử tổng vịnh tập của vua Tự Đức, quyển 1 tờ số 23, mục kỷ nhà Lý. Tài liệu viết về vua Lý Thái Tổ gồm 3 trang in, mỗi trang gồm 8 dòng, mỗi dòng khoảng 13 chữ Hán, tổng cộng 3 trang gồm hơn 300 chữ Hán. Đây là tài liệu gốc in từ bản ván in mộc bản dưới triều Nguyễn, thật là một tài liệu quý nói về Lý Thái Tổ.
Theo tài liệu này cho biết: Sách sử kí bản kỷ chép: vua Thái Tổ, họ Lý, tên húy là Công Uẩn, là người Châu Cổ Pháp, tỉnh Bắc Giang. Vào khoảng giữa niên hiệu Ứng Thiên, Lý Công Uẩn mới bắt đầu ra làm quan, thờ vua Lê Trung Tông. Đến khi Lê Trung Tông bị Lê Ngọa Triều sát hại, các quan trong triều đình đều chạy chốn hết, chỉ duy có một mình Công Uẩn ôm thây vua Trung Tông mà khóc. Vua Ngọa Triều khen ngợi Công Uẩn có lòng trung với vua, và cho Công Uẩn làm chức Tứ sương phó chỉ huy sứ. Nguyên trước đó tại châu Cổ Pháp có cây gòn bị sét đánh có hàng chữ sau hiện lên “hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành”. Sư Vạn Hạnh tự bình riêng rằng: “hòa đao mộc là chữ lê, thập bát tử là chữ lý”. Sư Vạn Hạnh mới nói với Công Uẩn: “Tôi xem câu phù sấm lạ lùng kia thì họ Lý đến thời hưng thịnh, nay xét trong họ Lý không ai bằng Thân Vệ (Thân Vệ tức Công Uẩn) được. Thân Vệ là người có đức khoan hòa, hiền từ, nhân ái, dung thứ rất được lòng quan quân và dân chúng. Mà con người cầm giữ binh quyền và đứng đầu muôn dân trong lúc này, nếu bỏ Thân Vệ đi thì còn có ai đảm đương nổi đại sự?
Lê Ngọa Triều thường ăn quả ngũ liêm (quả khế), nhân được hột Lý ở trong quả ấy, mới cảm giác câu sấm ngữ trên rồi âm thầm tìm họ Lý để giết. Lý Công Uẩn ở cạnh vua mà không hề biết. Đến khi Ngọa Triều chết, tự quán (con nối ngôi) còn thơ dại, quan chi hậu nội thần là Đào Cam Mộc thăm dò biết được ý Công Uẩn muốn triều đình trao ngôi vua cho mình, mới cùng với các bậc khanh sĩ và bách quan trong triều âm mưu sách lập Công Uẩn lên làm Thiên tử. Người người đều bằng lòng và phục tùng. Bấy giờ triều đình rước Công Uẩn lên chánh điện, tôn lập lên ngôi Hoàng đế, tức vua Lý Thái Tổ. Vua Lý Thái Tổ rời kinh đô về Thăng Long, ngài trị vì được 18 năm. Có thơ vịnh Thái Tổ rằng:
Nhà Lý thành công tuy có sấm
Vua Lê thất cước há vô mưu
Chẳng nhờ Vạn Hạnh giải thành ngữ
Ai biết đương niên kẻ khóc hoài.
Nguyễn Huy Khuyến