Chúng tôi đến thị xã Hà Giang vào những ngày cuối tháng 8 khi Việt Nam đang chịu ảnh hưởng cơn bão số 3.
Cuộc hành trình từ thị xã Hà Giang lên Lũng Cú, Mèo Vạc chia làm 3 chặng: chặng thứ nhất từ thị xã Hà Giang lên thị trấn Quản Bạ; chặng thứ 2 từ Quản Bạ ngược Đồng Văn và chặng thứ 3 từ Đồng Văn lên Lũng Cú, Mèo Vạc. Đoạn đường này dài gần 200 km khúc khuỷu, quanh co với những khúc cua tay áo dựng ngược con dốc khiến không ít lần chúng tôi thót tim.
Vào thị trấn Quản Bạ phải đi qua Cổng Trời, đây vốn là “Vùng tự trị của người Mèo”, một thời từng được mệnh danh là Hồng Kông của Việt Nam, có độ cao khoảng 1.500m so với mực nước biển, bao gồm các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc và Yên Minh dưới thời Vua Mèo - Vương Chính Đức đã đi vào lịch sử dân tộc như một vương quốc đầy quyền uy, với những nhân vật như A Phủ, A Sử, Thống Lý Pá Cha, Mỵ … được Tô Hoài khắc hoạ khá sinh động trong truyện ngắn cùng tên “Vợ chồng A Phủ”. Quản Bạ còn có núi đôi đẹp nao lòng. Nhìn ngắm ngọn núi khiến ta liên tưởng đến câu thơ nghẹn lòng của nhà thơ Vũ Cao “Núi vẫn đôi mà anh mất em”.
Nghỉ đêm tại thị trấn Quản Bạ mới cảm được không khí tĩnh lặng có chút gì đó rợn ngợp của miền sơn cước. Anh trưởng đoàn nói, lên Hà Giang mà không say rượu ngô thì chưa thấy hết được cái tình của đồng bào dân tộc. Say rượu theo kiểu người dân tộc thì có lẽ ai cũng muốn say, say đến quên đường về, say đến mê mẩn ngủ dọc đường, sáng tỉnh dậy vợ đi tìm đưa về nhà. Rượu ngô Hà Giang có vị rất đặc trưng không lẫn vào đâu được, chút cay cay, nồng nồng đậm đà âm vang dư vị của núi rừng. Nhấp chén rượu rồi hẳn không thể nào quên, đấy chính là hương vị đầy vơi của non nước cùng tận.
Con đường Hạnh phúc. Chỉ cái tên thôi cũng đã nói lên được niềm vui sướng đến chừng nào khi mà con đường này được hoàn thiện. Nhằm giúp đồng bào miền núi tiến kịp với miền xuôi, TW Đảng, khu Uỷ Việt Bắc quyết định mở con đường Hà Giang - Mèo Vạc - Đồng Văn. Chỉ chưa đầy 6 năm (1959 - 1965), con đường đã hoàn thành với sự tham gia của đồng bào các dân tộc Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái, Hải Hưng, Nam Định. Riêng dốc Mã Pì Lèng, công nhân đã phải treo mình suốt 11 tháng để mở đường. Chúng tôi dừng chân trên đỉnh Mã Pì Lèng chụp ảnh lưu niệm. Từ đây nhìn xuống, dòng Nho Quế quanh co uốn lượn như dải lụa mềm mại luồn lách qua từng vách núi. Bên kia dòng sông là nước bạn Trung Quốc, tự dưng thấy lòng có gì đó xốn xang lạ lùng... mới thấy thiên nhiên càng kỳ vĩ bao nhiêu thì sức người lại càng lớn lao bấy nhiêu. Bàn tay của con người phá đá, san rừng, bạt núi làm đường... Đúng như nhà thơ Hoàng Trung Thông đã nói “Bàn tay ta làm nên tất cả/Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.
Cột cờ Lũng Cú hiện ra dần trước mắt chúng tôi. Nơi địa đầu Tổ quốc đây rồi! Điểm cực Bắc của Tổ quốc đây rồi! Sao tự dưng thấy lòng rưng rưng lạ. Có lẽ đứng trước hồn thiêng sông núi, lòng người thấy nao nao khó tả. Lá cờ đỏ sao vàng ngạo nghễ tung bay trong gió như nhắc nhở lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam với bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Chúng tôi bước từng bước từ từ theo bậc thang lên cột cờ. Lên tới đỉnh cột cờ, nhìn xuống những bản làng, khói lam chiều nhà ai đan vào những áng mây bồng bềnh như đang ôm lấy từng ngọn núi. Xa xa những thửa ruộng lúa bậc thang đang thì con gái đều tăm tắp chạy đến tận lưng chừng núi. Cảnh tượng này làm cho người đi xa cảm thấy nhờ nhà, nhớ quê hương da diết.
Cột cờ Lũng Cú hôm nay đang được xây dựng lại, khang trang hơn, cao đẹp hơn, trước sự kiện trọng đại của cả nước, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Trong số anh em đang làm việc, có người ở miền xuôi, có người ở miền ngược, có người ở đồng bằng, rừng núi. Nhìn các chị, các em gùi từng bao xi măng, bao cát, bao đá từ chân núi lên đỉnh cột cờ mới đáng khâm phục làm sao. Nhưng nào có hề chi, họ vẫn cười, vẫn nói đấy thôi...
Cột cờ Lũng Cú có độ cao 1.600 - 1.800m so với mực nước biển. Tại đây còn lưu giữ lại hoá thạch Bọ Ba Thuỳ, có niên đại trên 5 triệu năm, được phát hiện trong đá vôi hệ tầng Chang Pung. Đây là hoá thạch cổ nhất của công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn. Điều này minh chứng về một quá trình kiến tạo kéo dài hàng triệu triệu năm của thổ nhưỡng vùng này.
Thị trấn Đồng Văn chiều muộn không tấp nập, vồn vã như những thị trấn dưới xuôi. Phiên chợ dường như cũng đã tàn, chỉ lưa thưa hàng quán và vài người mua bán qua lại. Nét đặc trưng là phố cổ, con phố ngắn chưa đầy một cây số, nhưng những ngôi nhà được xây dựng bằng đất theo kiểu nhà trình. Trong ánh chiều le lói, từng ngôi nhà, bậc thang, dậu cửa cứ hồng hoang một màu nhớ nhung đến não nùng. Chúng tôi ngồi nghỉ chân và uống nước ở quán phố cổ cà phê. Quán ấn tượng bởi lối kiến trúc đặc trưng vùng cao.
Từ Đồng Văn đi Mèo Vạc chỉ chừng gần 30 cây số nữa thôi. Mặc dù trời đã chạng vạng nhưng chúng tôi vẫn quyết định đi thẳng tới Mèo Vạc. Nghỉ đêm tại Mèo Vạc thấy lòng thanh thản lạ thường. Thị trấn Mèo Vạc so với thị trấn Đồng Văn, Quản Bạ và Yên Minh thì phát triển hơn nhiều.Về đêm, Mèo Vạc không ồn ào, tấp nập nhưng cũng không quá yên ắng. Có nhà hàng, khách sạn, quán ăn… và người cũng qua lại nhưng chỉ lưa thưa điểm xuyết một chút thế thôi. Đường phố vẫn sáng đèn, nhưng không quá lung linh. Đúng là phố núi. Anh bạn trong đoàn tếu táo “Phố núi này không biết có gì hấp dẫn”!
Thế là đã bước sang ngày thư 5, chúng tôi rời xa Hà Nội hành trình về miền biên cương của Tổ quốc này. Chợt nhớ ra, hôm nay đoàn phải chia tay Hà Giang. Trong tôi bộn bề nuối tiếc vì chưa khám phá hết con người nơi này, mảnh đất nơi này. Thu dọn hành lý, anh em lên xe tiếp tục quay trở lại thị xã Hà Giang để về Hà Nội. Nếu như trước đây, 200 km đoàn đường Hà Giang - Đồng Văn - Lũng cú - Mèo Vạc là sự ngỡ ngàng, tò mò khám phá thì hôm nay cũng đoạn đường đấy, nhưng là sự khâm phục và trân trọng biết bao về con người và mảnh đất nơi đây…
Xuân Tuấn