Để giúp Ba Huy quản lý, Trần Trinh Trạch đặt quy chế cho tá điền thuê ruộng theo kiểu khoán gọn hoặc mướn tá điền về làm ăn công nhật. Ruộng tốt thì cho thuê 1,5 giạ một công, ruộng xấu thì 1 giạ. Tá điền mướn ruộng được vay lúa giống, lúa ăn, mướn trâu, cho vay tiền để gặt hái, giỗ chạp... Tá điền vay 10 đồng đến mùa trả 17,5 đồng, 10 giạ lúa trả 15 giạ, một đôi trâu trả 70 giạ. Sở điền nào Trần gia cũng nuôi mấy chục đến mấy trăm đôi trâu để cho mướn. Con em tá điền chăn giữ với giá 50 giạ lúa và 2 bộ đồ vải thô một năm. Con gái giữ trâu từ thời để chỏm đến khi lấy chồng, ngày xuất giá kỳ cọ mãi mà da thịt vẫn còn mùi hôi trâu.
Tại điền Bàu Sàng, đời nông dân là những kiếp đời nghèo hèn cơ cực trải ra trên cánh đồng ngập úng triền miên. Tháng 8 mưa dầm đến thúi đất, ra đồng từ khuya lơ khuya lắc đến đỏ đèn mới về, chân tay thúi móng. Niềm vui là những câu hò vạn cấy vang xa trên cánh đồng trắng nước. Đến mùa gặt, đồng ruộng vui hơn một chút, dân gặt mướn từ miệt Tiền Giang đổ xuống bằng ghe, tốp 5 - 10 người, gặt xong thì đi nhà khác. Có người làm cả ngàn giạ lúa nhưng khi đong lúa cho chủ ruộng xong thì hạ 4 tấm ván ngựa xuống ví không đầy. Sau cái Tết quê tẻ nhạt, với bàn thờ gia tiên lèo tèo mấy đòn bánh tét và một buổi cơm đạm bạc cúng chiều 30 là tá điền lại đến nhà lầu để vay tiền, vay lúa. Cứ thế, một vòng nghèo khó quấn lấy đời tá điền. Cả xóm dùng chung cái giếng làng rồi dịch bệnh sốt rét, dịch tả... Dân nghèo đi rước thầy pháp về chữa bệnh. Thầy pháp nhiều hơn thầy lang, cũng như thầy nghề võ, thầy đờn ca nhiều hơn thầy dạy chữ. Thế cho nên, con cháu tá điền đa số không được học hành, không được tiếp cận ánh sáng văn minh. Giữa cái không gian quê mùa hiu hắt, tăm tối, lạc hậu ..., Trần Trinh Huy xuất hiện một cách “sáng rực” và xa lạ. Khác hơn các dân cậu của Bạc Liêu là trang phục bà ba lụa soạn trắng, Trần Trinh Huy trong com lê, quần tây, áo sơ mi, đội nón nỉ, đi giày da, lưng giắt đồng hồ quả quít Ăng-lê. Thỉnh thoảng, “cậu Ba” đi từ Bạc Liêu vào Bàu Sàng bằng ghe hầu. Ghe hầu là loại ghe trên mui có chạm hình rồng, phụng; trong ghe có sập gụ, có bàn đèn hút á phiện và uống trà. Hầu hết các phú hộ và điền chủ ngày xưa đều có ghe này và là phương tiện di chuyển phổ biến của nhà quyền quí. Nhiều ông Bá hộ đi thu lúa ruộng chở theo vợ hai, vợ ba. Con người Trần Trinh Huy vừa kết hợp cả “dân cậu lẫn dân Tây”. Cái “dân Tây” của Trần Trinh Huy là được tiếp cận một nền văn minh ăn chơi đi trước đời sống của con người điền Bàu Sàng mấy chục năm, cho nên phong thái, cách ăn chơi của Ba Huy đã làm cho cộng đồng tối tăm này ngỡ ngàng, dễ khắc sâu trong trí nhớ để người ta thêu dệt nên những giai thoại. Ba Huy đến Bàu Sàng thường vào hai dịp: cúng rằm tháng bảy và lễ Kỳ yên. Tá điền kể rằng, họ thường chạy theo kinh rạch ngoằn ngoèo để xem ghe hầu của Ba Huy vào. Thường thì “cậu Ba” chở theo đào hát hoặc tình nhân vào nhà lầu để trụy lạc vài ba ngày. Vào dịp rằm tháng bảy, Ba Huy tổ chức thí giàn thật lớn, đồ cúng gồm bánh, trái cây, gà vịt, gạo... bày đầy sân nhà lầu và bày trò ném tiền chúng sinh, dân trong vùng gọi là “giựt giàn ủy nhà lầu”. Không phải chỉ có trẻ con, mà cả người lớn trong điền Bàu Sàng đi giựt như đi hội. Trên ban công nhà lầu, cô Hai Lưỡng con gái của vợ chính thức với Ba Huy lúc đó mới 12 - 13 tuổi nhưng tất cả tá điền từ già đến trẻ phải gọi là cô Hai, đứng kế một cần xé bạc cắc loại 1-2 xu, bốc tiền ném tiền xuống. Nhiều người tranh nhau giựt rồi đánh lộn với nhau...và người của nhà lầu, trong đó có Ba Huy, đắc chí cười vang.
Mùa hạn, Trần Trinh Huy gom tá điền lại, bắt họ vác đất đắp cái bàu sen rộng mấy công đất thành cái nền thật to, cách nhà lầu một cây số rồi cho cất lên 5 căn phố để cho người thân thích thuê bán hàng xén, sau Tết khoảng sân to này được Trần Trinh Huy tổ chức lễ cúng Kỳ yên, lễ hội lớn tới cỡ chưa từng xảy ra ở Bàu Sàng, cùng chợ phiên kéo dài hàng tháng trời. Với Ba Huy thì tháng giêng là tháng ăn chơi nên ông ta rước về ba gánh hát gồm tiếng Việt, Khmer và tiếng Tàu. Dân ở nhiều làng lân cận ùn ùn kéo đến đông nghịt, làm cho cái sân lễ như nứt ra. Chợ phiên có nhiều hàng quán, vải vóc, hàng xén, lẫn sòng bài cào, hốt me, xí ngầu... Mở màn buổi lễ, nhà lầu làm heo nấu cỗ dọn lên rất nhiều rượu thịt, Ba Huy đứng làm chánh chủ lễ cúng “đất đai dương trạch”, “sơn thần, thổ địa”, “cô hồn các đảng”... theo thông lệ của lễ cúng Kỳ yên để tạ ơn việc phù hộ cho điền đất năm nay trúng mùa và cầu cho quốc thái dân an. Cúng xong, nhà lầu mời hết thảy tá điền ăn nhậu, sau là trò chơi, ta, tây cùng các trò chơi dân gian. Đặc biệt là “đấu xảo sắc đẹp” có giải thưởng hẳn hoi. Có khi bằng tiền, khi bằng hiện vật như: lúa, vàng hoặc các nông phẩm khác. Các cuộc “đấu xảo sắc đẹp” đều do Ba Huy làm chủ khảo. Ba Huy lăn xả vào các cuộc chơi, chứng tỏ rằng cái máu ham vui của Công tử Bạc Liêu rất đậm đặc. Chỉ có điều, sau lễ cúng Kỳ yên với những trò chơi nửa Tây nửa ta đó thì tá điền nghèo lại nghèo thêm và người ngợm thêm đổ đốn. Những thú vui chưa từng biết đã kích động họ, xui khiến họ lao vào ăn nhậu, cờ bạc. Có người làm mướn suất năm tích lũy bỗng trắng tay khi lễ Kỳ yên kết thúc. Thế là lại đi vay tiền của nhà lầu để rồi nợ nần chồng chất. Vậy cho nên, ngoài cái ham vui, chắc Trần Trinh Huy còn thâm ý bần cùng hóa tá điền để họ mãi mãi phải gắn bó với Trần gia.
Trung Nghĩa