Cái thế đất “rồng cuộn, hổ ngồi, chính giữa nam, bắc, tây, đông, tiện nghi núi sông sau trước” mà vua Lý Thái Tổ chọn đặt Kinh đô, chắc chắn có cái thế tựa lưng vào Tản Viên hùng vĩ. Từ Ba Vì đến Xuân Mai, cùng với hệ thống sông Hồng, sông Đà đưa nước ra biển lớn, bồi đắp nên vùng châu thổ bát ngát, đã tạo nên một cấu trúc phong thuỷ “tiền thuỷ hậu thạch”, “sông tụ núi chầu”. Năm trăm năm sau, khi Lý Thái Tổ định đô, Nguyễn Trãi - nhà chính trị lỗi lạc, Danh nhân văn hóa thế giới đã nhìn Tản Viên với ý nghĩa thật sâu sắc: “Tản Viên là tên núi, núi có ba ngọn cao chót vót, núi ấy là núi Tổ của nước ta đó. Thần núi Tản Viên gọi là Trụ Quốc Đại Vương linh hiển có tiếng”. Trong tâm thức người Việt Nam “nhất cao là núi Ba Vì”, nhưng đó không chỉ là độ cao về địa lý, mà trên hết chính là lòng ngưỡng mộ, sùng kính tôn vinh cội nguồn đại bản doanh của Tản Viên Sơn Thánh, Đệ nhất Phúc Thần, người anh hùng vô song tiêu biểu cho ý chí và sức mạnh dân tộc thời sơ khai dựng nước.
Trong hành trình dựng nước và giữ nước, đất và người Tản Viên xứ Đoài đã làm nên những kỳ tích, tô thắm trang sử hào hùng của dân tộc. Nơi đây, “Đường Lâm cổ ấp” đã sinh ra hai vị anh hùng dân tộc: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Tiền Ngô Vương Ngô Quyền. Hai vị anh hùng kiệt xuất đã góp phần to lớn vào kỳ tích kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một thời đại mới độc lập tự chủ và chấn hưng dân tộc.
Đến thời đại Hồ Chí Minh, ngay sau khi giành được chính quyền, giữa tháng 12/1945, Bác đã về thăm nhân dân Sơn Tây. Ngày 22/6/1946, sau khi dự lễ khai giảng ở trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Bác đã gặp và nói chuyện với nhân dân, Người còn đến thăm bệnh viện Tỉnh, ân cần thăm hỏi thầy thuốc, bệnh nhân. Ngày 18/12/1946 tại hang chùa Trầm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc và phát lệnh kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cái tết kháng chiến đầu tiên (1947), Bác đã lặn lội dưới trời mưa, gió lạnh, đồng đất lầy lội tại xã Cần Kiệm (Thạch Thất) 19 ngày để chỉ đạo cuộc kháng chiến. Ở đây, Bác đã viết bài thơ chúc Tết kháng chiến đầu tiên, và đúng thời khắc giao thừa Bác đã vào chùa Trầm đọc lời chúc Tết. Hai mươi năm sau ngày Bác đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 13/7/1966, Bác lại về thăm chùa Trầm, Bác đã viết một văn kiện lịch sử “Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước”. Với xứ Đoài, từ trên sườn núi Tản, tới bờ bãi sông Hồng, từ ngọn núi đến hồ nước, từ cánh đồng lúa đến khúc đê xung yếu, nhiều nơi trên mảnh đất này đã in dấu chân Bác. Mùa hè năm 1957, trên đường công tác, Bác dừng chân ở một gốc đa ven đường thuộc xã Ba Trại, Bác mong muốn gốc đa này có một ghế đá để bà con nông dân đi làm đồng trưa nắng vào nghỉ ngơi, hoặc khách bộ hành mỏi chân trú nắng. Tấm lòng nhân ái của Bác sau đó đã được thực hiện. Tháng 7/1958, Bác thăm xã Cổ Đô, Người ra đồng, lội ruộng thăm bà con nông dân bắt sâu phá lúa. Bác động viên đồng bào khắc phục khó khăn do thiên tai dịch bệnh, quyết dành thắng lợi trong sản xuất. Bác đến kiểm tra kè Cổ Đô, Vu Chu và những đoạn xung yếu trên đê sông Hồng, Bác động viên nhân dân xã Cam Thượng đang chống lụt. Ngày 26/01/1964 nhân chuyến công tác, nghỉ ăn cơm trên đồi Chu Mật, xã Thái Hoà, Bác nhắc nhở: phong cảnh Ba Vì sơn thuỷ hữu tình nên trồng thêm nhiều cây xanh, bóng mát thì vẻ đẹp càng tăng nhiều hơn nữa. Tháng 4/1964, Bác thăm đập Suối Hai, một công trình thuỷ lợi lớn mới được xây dựng, nhờ công trình này mà hàng nghìn ha ruộng một vụ thành ruộng hai vụ, Bác ân cần hỏi han nhân viên vận hành việc đưa nước vào đồng. Ngày 16/2/1969, mồng một Tết Kỷ Dậu, sau khi thăm bộ đội phòng không, Bác thăm, chúc tết bà con Ba Vì. Tới làng Vật Lại Anh hùng, Bác dừng chân nghỉ trên đồi, ngắm nhìn Tản Viên, Bác đã trồng cây đa trên đồi Yên Bồ xã Vật Lại. Đây là lần cuối cùng Bác thăm nông dân và trồng cây trước lúc Người đi xa.
Với tầm nhìn chiến lược, từ những năm 50 của thế kỷ trước, Bác Hồ đã chú tâm quan sát vùng đất thiêng Tản Viên, dự kiến cho một nơi làm việc, nghỉ ngơi. Mãi đến năm 1957, trong một lần thăm bộ đội sư đoàn 308 diễn tập, Bác nghỉ chân trên khu đồi có 3 hòn đá lớn như tháp bút chĩa lên trời. Dưới chân đồi, dòng sông Đà dạt dào sóng nước, mặt trời xuyên ngang, dòng sông lấp lánh ánh bạc, tạo nên khung cảnh sơn thuỷ hữu tình. Đây là khu Đá Chông, một hợp thể tổng hòa, các yếu tố linh thiêng, trước mặt quy tụ ba dòng sông Hồng, sông Đà, sông Thao; sau lưng núi Tản viên, nhìn toàn cục vùng đất hội tụ phát tích linh khí địa linh nhân kiệt. Bác ngỏ ý muốn chọn nơi này làm căn cứ cho Trung ương, đề phòng đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Những năm kháng chiến chống Mỹ, nơi đây đã trở thành cơ sở diễn ra nhiều cuộc họp của Bác với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quyết định những việc quan trọng đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hoà bình lập lại, hiểu rõ ý nguyện của Người, Đảng, Nhà nước đã xây dựng khu K9, Đá Chông thành khuôn viên đẹp đẽ, trang nghiêm, nhiều quần thể trụ đá được giữ nguyên, sân, đường đi được rải sỏi. Đặc biệt trên đỉnh cao nhất trong 3 ngọn núi Tản Viên, nhân dân Ba Vì đã xây dựng đền thờ Bác Hồ. Không một ai đến thăm nơi này mà không trào dâng niềm cảm xúc trước sự vĩ đại của một con người đã trở thành huyền thoại ngay trong cuộc sống đời thường của mình.
Trần Công Huyền