Tôi còn nhớ báo chí Việt ngữ ở ngoài nước, đều từ chối đăng quảng cáo của các hãng lữ hành quảng bá du lịch Việt Nam. Lác đác một vài báo dám đăng quảng cáo, nhưng đề nghị sửa lại từ Việt Nam, thành du lịch Đông Nam Á (trong đó dĩ nhiên có Việt Nam).
Về Sài Gòn, thời điểm đó, chỉ có gia đình, vợ con, anh em ruột thịt mới được thông báo, còn ngoài ra họ đều dấu biệt. Cùng với thời gian, bóng dáng của các anh công an khu vực, dân quân, bộ đội… nhạt nhòa trong tâm trí của người Việt xa xứ. Rồi những người Việt cũ ở Mỹ, Pháp, Canada… thăm thân nhân trở về an toàn, đã mô tả một Việt Nam hoàn toàn đổi khác. Dần dần điều này lan rộng trong cộng đồng người Việt hải ngoại, và mọi người đều nô nức một chuyến trở về.
Trong thập niên 90, và những năm đầu thế kỷ XXI, người Việt định cư ở nước ngoài, đời sống ổn định, công việc làm ăn đã vững chắc, nhà cửa đã trả xong nợ nần, tiền bạc đã rủng rỉnh trong nhà băng, con cái đã lớn, và hầu hết họ đã hòa đồng vào đời sống và thói quen dân bản địa. Du lịch trở nên một nhu cầu, mỗi năm ít ra một lần, để quên đi tháng ngày miệt mài trong công việc.
Đi đâu về đâu? Câu hỏi được cân nhắc kỹ lưỡng. Âu châu, Mỹ, Úc… đều na ná nơi họ đang ở. Từ sâu thẳm trong tim, trong ký ức đã bật ra: Đi để trở về. Và du lịch với người Việt ưu tiên đầu vẫn là về quê. Huế - Sài Gòn - Hà Nội, điểm đến lý tưởng của kiều bào hải ngoại. Trong huyết quản của họ, dòng máu Việt vẫn luân lưu không ngừng nghỉ. Về lại quê hương, sau bao nhiêu năm xa cách, để nghe lại tiếng rao ngày xưa trong đêm khuya, trên đường phố thân quen. Trở về để xiết chặt bàn tay của bạn bè, nhìn lại ánh mắt của người tình lỡ, đón vòng tay thân yêu nồng nàn của cha mẹ, anh em ruột thịt. Tình cảm thắm thiết đó đã dẫn dắt họ quay về. Người về ngày một đông hơn. Có một dạo các công xưởng Mỹ, cứ gần đến ngày giáp tết Việt Nam, hàng loạt đơn nghỉ phép của công nhân người Việt xin nghỉ để du lịch về Việt Nam, các xếp Mỹ rất ngạc nhiên, và năm sau họ phải ra thông báo: công nhân thợ thuyền Việt Nam muốn nghỉ phải thông báo sớm với phòng nhân sự trước 3 tháng, để sắp xếp điều hòa công việc. Một nghịch lý đáng quan tâm, là các nhà hàng, chợ búa do người Việt làm chủ trong những ngày tết cổ truyền Việt Nam thường vắng khách, vì mọi người đều bỏ đi xa, đa số về Việt Nam. Do đó, chợ búa, nhà hàng, quán ăn, quán phở trong dịp này đều đóng cửa từ một tuần đến nửa tháng mới khai trương trở lại.
Theo một thống kê bán chính thức trong năm 2007 tại Hoa Kỳ, Việt Kiều ở Mỹ về Việt Nam khoảng gần 200 nghìn người, với số lượng đông đảo như vậy, chỉ làm một phép tính đơn giản, mỗi người chi tiêu khoảng 3.000 USD, Việt Nam đã thu được 600 triệu mỹ kim, đó là chưa kể đến tiền tặng thân nhân, bè bạn. Tính gộp lại, người Việt trở về mỗi năm đã “chuyển” về Việt Nam hơn 1 tỷ đô la, một số tiền không nhỏ đối với một đất nước đang phát triển.
Kết hợp với các tour du lịch trong nước
Về thăm thân nhân nhiều lần, người Việt hải ngoại rút tỉa được một kinh nghiệm quý báu, tìm kiếm các tour du lịch trong nước để thăm Angkor ở xứ Chùa Tháp, thăm chùa vàng ở Thái Lan, đến Singapore, Hong Kong dạo shopping và đặc biệt du lịch Trung Quốc .
Các tour du lịch này hấp dẫn vì tiện lợi và giá rất rẻ. Nếu từ Mỹ đi Trung Quốc khoảng ba tuần lễ, phải chi ra khoảng 3.000 đô, về Việt Nam, trước hết được thăm gia đình, sau đó đi Tô Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh, Thượng Hải, thăm mộ Tần Thủy Hoàng, viếng Cấm cung, rồi nhìn ngắm kỳ quan thế giới Vạn Lý Trường Thành, số tiền chi ra khoảng 800, hay 900 đô. Nếu qua Campuchia thăm Angkor, chưa đến 200 đô. Với tình hình suy thoái kinh tế trên toàn cầu hiện nay và nhất là tại Mỹ, du lịch về Việt Nam rồi kết hợp tham quan những quốc gia Đông Nam Á, nhất là Trung Quốc, với giá rẻ như kể trên thì Sài Gòn – Hà Nội chính là cầu nối hấp dẫn nhất không những với Việt Kiều mà còn cả với dân Mỹ, Pháp, Anh, Canada. Nếu như ngành Du lịch Việt Nam đầu tư có kế hoạch, quảng bá rộng rãi trên các hệ thống truyền thông quốc tế ưu điểm này, Việt Nam trong vài năm tới sẽ đuổi kịp ngành du lịch nước bạn kế cận Thái Lan.
Về Việt Nam cưới vợ
Song song với du lịch về thăm đất mẹ, trong những năm gần đây, một hiện tượng không kém hào hứng đã bùng phát trên đất Hoa Kỳ: về Việt Nam chọn bạn trăm năm.
Kiều nữ Huế - Sài Gòn - Hà Nội hình như có một sức quyến rũ các chàng trai độc thân tìm về quê cha đất tổ. Chúng tôi quen biết 5 gia đình ở xứ người như Úc, Pháp, Hoa Kỳ, Canada và Tân Tây Lan. Trong vòng 3 năm trở lại đây, cả 5 gia đình đều có con em cưới vợ Việt ở trong nước. Gái Việt ngoan, dịu dàng, xinh đẹp, đó chính là sự quyến rũ các chàng trai chưa vợ tìm về. Bên cạnh đó còn có sự khuyến khích của cha mẹ, ông bà cho con cháu nên lấy vợ Việt, thay vì cưới vợ ngoại quốc vì khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa ẩm thực rất sâu sắc. Ở Mỹ 10 cặp vợ chồng, trai Việt, gái Mỹ ăn ở với nhau khoảng dăm bảy năm thì tám phần mười nói lời chia tay. Hơn nữa thủ tục ly dị rất dễ dàng, không hợp nhau thì ra tòa ký giấy “Anh đi đường anh, tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi…” Do đó các bậc cha mẹ, ông bà thường dị ứng khi có con dâu là người da trắng.
Nhiều bậc phụ huynh này còn sốt sắng du lịch Việt Nam với mục đích nhờ bè bạn, bà con tìm trước cho con trai mình một cô dâu tương lai trong các gia đình lễ giáo, rồi sau đó thuyết phục con cùng trở lại Việt Nam, giới thiệu cho hai trẻ quen nhau. Hiện tượng kể trên càng lúc càng lan rộng trong các cộng đồng có đông đảo người Việt cư ngụ như: New York, San Jose, Los Angeles, Orange Country, Houston ở Texas.
Tôi có một anh bạn, quen nhau đã gần 40 năm, về Việt Nam kinh doanh từ năm 1989, những năm đầu tiên thất bại, nhưng nhờ kiên nhẫn chịu khó đã vượt qua mọi thử thách, và thời điểm này - những ngày cuối năm 2008 – anh đã có một chỗ đứng vững vàng trong giới Việt kiều kinh doanh tại Việt Nam. Nhưng điều tôi ngạc nhiên và tâm phục nhất không phải là sự thành công về tiền bạc của anh, mà chính là tình cảm của anh dành cho cha mẹ, con cái anh. Anh đã đón ông bà cụ ở Pháp về Sài Gòn sống với anh để anh hàng ngày nhìn thấy khuôn mặt mẹ cha thân yêu, được lo lắng chăm sóc sức khỏe họ. Nhiều lần anh tâm sự, thành công trên thương trường đối với anh không quan trọng lắm, điều mà anh tâm đắc nhất là hai cậu con trai anh quốc tịch Hoa Kỳ, học hành thành đạt đã chịu về làm việc cùng anh, và cả hai cậu ấm đều đã chọn “kiều nữ” Sài Gòn để “nâng khăn sửa túi”.
Một buổi chiều cùng anh, ngồi trên tầng 10 của khách sạn Caravelle uống ly cà phê. Sài Gòn chìm trong mưa, những ngọn đèn đường vừa bật lên, Sài Gòn chập choạng trong đêm. Chúng tôi nhớ về một thời trai trẻ thuở nào, những bạn bè giờ đã xa, chìm khuất, những người còn lại quắt quay trong bão tố đời sống xứ người.
Trong suy tư lãng mạn của tuổi già, chợt ánh lên một ngọn lửa, một giấc mơ. Biết đâu, trong một hai thế hệ nữa, một Robert Nguyễn, một Kevin Hoàng, một Tiffany Trần đứng đầu hay đứng phó một Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ giàu mạnh. Chỉ là một ước mơ. Biết đâu…
Chúng tôi bước xuống. Đứng trên lề đường khách sạn Caravelle, bên kia đường là tiệm cà phê Givral, xa hơn nữa, quán cà phê Cái Chùa (La Pagode) ngày nào không còn nữa.
Quá khứ đã chìm sâu. Sài Gòn đổi thay đến chóng mặt.
Mưa đã tạnh, mây đã tan, trên bầu trời xa thẳm kia đã lấp lánh ánh sao đêm, Sài Gòn đang đầy ắp không gian của một tinh cầu sang xuân.
Nguyễn Khắc Nhân