“Con đường Muối” – con đường giao thương.
… Đặc điểm địa hình như thế đã khiến chúng ta có cảm giác sơn hệ Trường Sơn - ở miền Trung, từ góc nhìn ven duyên trở thành “trường thành ngăn cách”, là chướng ngại đáng kể trên con đường giao lưu, giao thương giữa trung châu không mấy phồn thịnh và miền thượng du trù phú – trục nối kết, và là sinh lộ thiết yếu mang tính liên vùng, liên khu vực… Từ rất nhiều nguồn tư liệu, chúng ta hẳn đã thấy nhu cầu đi lại, trao đổi giữa các bộ phận người bản địa, dần theo thời gian định hình thành mạng lưới mua bán nội địa, liên khu vực, lẫn quốc tế, từ rất sớm, tồn tại phổ biến và đa dạng trên khu vực.
Một cao nguyên bị chia cắt ở phía đông, nơi có dải bờ biển dài với nhiều vịnh kín nhỏ, điểm neo đậu khá thuận lợi cho các đoàn hải thuyền tham gia vào “Con đường tơ lụa trên biển”. Nếu nhìn tổng thể, chúng ta sẽ thấy có ba con đường huyết mạch, là sinh lộ của vùng cao nguyên giàu có, mà hai trong số đó là đường thủy: sông Đồng Nai (khu vực nam Tây Nguyên); sông Ba (Phú Yên – khu vực nam Trung bộ); và con đường 9 (Quảng Trị) (Henri, Maitre, 1912)[1]. Tuy rằng, những yếu tố khác quyết định sự tồn tại của mạng lưới trao đổi như các cấp độ trao đổi, sự hiện diện của các cù lao cận duyên (Cù Lao Chàm [Quảng Nam], Cù Lao Ré [Lý Sơn – Quảng Ngãi] v.v…)… là cần thiết, nhưng trục lộ nối kết vẫn là yếu tố quan trọng không thể bỏ qua.
Trải mình trên cao nguyên rộng lớn, nhưng vị trí của Lào lại bị hạn chế trong việc tìm kiếm con đường giao thông bằng đường biển. Cho nên, việc hình thành tuyến giao thông Savannakhet – Sépon – Lao Bảo (đèo Ai Lao) – Đông Hà (Quảng Trị) [đường 9] là một trong những chọn lựa nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thân của các cộng đồng tộc người cư trú trên khu vực rộng lớn phía tây[2]. Chính vì vậy, muối và sản vật từ biển là những nhu yếu phẩm không chỉ cần cho người Thượng ở Việt Nam. Lưu ảnh về những “con đường muối”, “con đường hồ tiêu”, “con đường trầm hương”, “con đường quế”, hay “con đường chiêng – ché” v.v… vẫn là những ký ức sinh động trong lòng nhiều tộc người của khu vực:
- “Những con đường của người Mạ dùng voi để chở hàng, đường của người Srê đi về Blao hay Đà Lạt, đường của người Raglay đi đến vùng người Noang, đường của người Bana đi đến vùng người Xơđăng, hầu như bao giờ cũng song song với các dãy núi. Đấy là những “con đường muối” của người Tây Nguyên đổ xuống phía Đông – Nam đến bờ biển Trung bộ, người Bana xuống Quy Nhơn. Người Noang xuống Phan Rang và Phan Thiết” (Dam Bo, 1950: 69).
- “Người Mọi [chỉ người Katu] buôn bán với cư dân đồng bằng, trước hết là người Chàm, rồi tiếp là người An Nam. Vì qua nguồn trung gian của họ mà người Katu mới có đủ muối cho nguồn lương thực của mình” (Le Pichon, 1938: 364).
“Con đường muối” ở miền Trung Việt Nam được nối kết từ ven duyên đến vùng người Thượng, lan tỏa thành mạng lưới chằng chịt đến từng bản làng và vượt ra khỏi ranh giới quốc gia. Đây cũng chính là con đường làm nên sự giàu có nhanh chóng cho những cá nhân tham gia vào mạng lưới trao đổi, bởi giá trị của muối càng lúc càng tăng theo hướng tỉ lệ thuận với chiều dài đường đi. “Con đường muối” đôi lúc được đánh giá không hề thua kém “Con đường tơ lụa”, cả về tính chất lẫn quy mô, bởi trong một số tài liệu chúng ta biết rằng muối được đổi ngang bằng với vàng về trọng lượng.
Một số người Tà Ôi ở khu vực A Lưới (Thừa Thiên - Huế), chủ nhân vùng đất này, và cũng là đối tượng chính tham gia vào sự nhộn nhịp của tuyến đường 9. Họ đổi muối từ người Việt bằng các sản vật từ rừng, để lấy một số hàng hóa khác (cá khô, bạc, chiêng, ché, nồi đồng, thanh la v.v…). Trên những đoàn voi, ngựa thồ, con đường trao đổi của họ bắt đầu theo hướng Quảng Trị đến với người Bru, từ đấy, với con đường 9, một kho sản vật phong phú mở ra trước mắt họ ở Lào, và có thể, địa bàn trao đổi còn mở rộng hơn thế, khi thời gian của cuộc hành trình kéo dài đến đơn vị năm.
Chính việc khai thông qua nhiều tuyến giao lưu, trong đó có cửa ải Ai Lao qua đường 9, người Lào, một thời gian dài trong quá khứ đã bán được các thứ hàng hóa truyền thống của mình: lợn, ngựa, trâu, ngà voi, tê giác, thuốc phiện, xương hổ, xương khỉ, sáp ong, nhựa thông, trầm hương, tốc hương, sa nhân, sợi móc làm nón, gấm địa phương, gạo, ngô v.v… và mua của Việt Nam: muối, vải, dao rựa, đồ sắt, lưỡi cuốc, nồi đồng, mâm thau, lụa, giấy mực viết, thuốc men v.v… cùng nhiều loại hàng hóa cao cấp phục vụ tầng lớp trên.
Từ trục lộ trao đổi vốn có, đường 9 nhanh chóng trở thành chiếc cầu nối quan trọng giữa vùng duyên hải miền Trung Việt Nam với các quốc gia Lào, Campuchia, Thái, Miến v.v…
“Con đường thương mại quan trọng nhất ở Đàng Trong vào buổi đầu chạy qua đèo Ai Lao, từ sông Mékong đến bờ biển gần Quảng Trị. Tập trung ở thị trấn Cam Lộ, con đường này xuôi xuống cảng Cửa Việt và kéo lên Lao Bảo. Đây là con đường thương mại nhộn nhịp nhất trong vùng Thuận Hóa [..]. Từ đây người ta có thể dễ dàng đến Savannakhet ở phía Tây, hay Khemmart ở tây nam hay Mukdahan phía tây bắc. Rất có thể đây cũng là con đường Vientian sử dụng để đến Huế triều cống” (Li Tana, 1999: 175)
Đây là một trong những tuyến đường quan trọng bậc nhất của xứ Đàng Trong buổi đầu, bởi nhờ nó, về sau, khi đã ổn định ở vùng đất mới, các chúa Nguyễn có thể dễ dàng kiểm soát toàn bộ núi rừng phía tây. Mà những động thái can thiệp vào các cuộc xung đột giữa người Lào, Thái, Khmer hay ở những tộc người thiểu số khác trong một số thời điểm lịch sử của Đại Việt, luôn ẩn hiện sau nó bóng dáng của con đường này.
[1] Ở miền Trung Việt Nam, bởi ấn định của điều kiện địa lý, các con đường tự nhiên thâm nhập vào hinterland (nội địa) không nhiều và vùng nội địa trung tâm Nam Đông Dương được thiên nhiên bảo vệ rất tốt. Về phía hành lang ven biển Trung Kỳ, rất ít thung lũng mở vào Trường Sơn, vốn dựng dãy rào chắn liên tục của nó cho đến tận sát biển. Quả là ở phía cực Bắc có khe hở Ai-Lao, song nếu nó có dẫn thẳng tới sông Mékong qua thung lũng sông Sé Bang Hien thì về đường vào hinterland thực thụ, nó chỉ mở được vào Cao nguyên Ta-Hoi, theo thung lũng sông Sé Tchépôn, và tới đây thì cụt đường. Ở phía Nam, suốt hành lang ven biển chỉ có một số dòng thác không có thung lũng cỡ trung bình nào, và phải xuống tới tận sông Ba mới tìm thấy một đường khác dẫn vào hinterland. Quả thật, theo hành lang được mở ra một cách tuyệt vời này ta có thể vào đến được toàn bộ hệ thống Cao Nguyên Jarai và Darlac, từ đó, về hướng Bắc, đổ xuống thung lũng thượng lưu sông Sé San, và về phía Nam, xuống bình nguyên Médrac. Tuy nhiên, từ phía sông Mékong, lối vào hinterland lại dễ dàng hơn nhiều, dù đường đi có dài hơn so với đường xuất phát từ Trung Kỳ (Henri Maitre, 1912: 392 - 393).
[2] Chính bởi vị thế cô lập trước nhiều cơ hội giao lưu, trong lịch sử, Lào đã tìm lối thoát cho quốc gia mình theo nhiều hướng khác nhau:
[a]. Con đường ra biển qua Khorat – Mường Đan – Bangkok khá thuận lợi nhưng bị Xiêm (Thái Lan) khống chế;
[b]. Tuyến đường thủy xuôi dòng Mékong qua Cambodia gặp rất nhiều trở ngại bởi thác ghềnh hiểm trở, việc đi lại khó khăn và đầy rẫy sự hiểm nguy.
[c]. Tuyến đường bộ ra phía đông qua Việt Nam, ngắn nhưng gặp trở lực của dãy Trường Sơn. Chính vì thế, nhiều tuyến đường khác dần được hình thành: - Tuyến đường Nặm U - Mường Lay - Mường Thanh - miền Bắc Việt Nam; Tuyến đường Nặm Mạ - Xầm Nưa – Thanh Hóa; - Tuyến đường Xiêng Khuang – Mường Sen – Nghệ An; - Tuyến đường Khăm Kợt – Khăm Muộn – Ne Pe – đèo Bắc – Vinh; - Tuyến đường Nặm Thơm – Nặm Nọi – đèo Phu Thim – đồn Quy Hợp (Hương Khê – Hà Tĩnh); - Tuyến đường Mạ Hả Xay – Xê Băng Phay – đèo Muza (Mụ Dạ) – Quảng Bình; -Tuyến đường Savannakhet – Sépon – Lao Bảo (đèo Ai Lao) – Quảng Trị (Đông Hà); - Tuyến đường Xê Kông (Nặm Nọi) – A Hồi – Quảng Nam – Đà Nẵng; - Tuyến đường Mường May At Tạ Pư – Đăk Lăk – Cao nguyên Trung bộ Việt Nam tỉnh Kontum) (Institute for Southeast Asian Studies – Institute for Lao Cultural Research, 2000: 22)
Bảo Đàn (trích tài liệu thông tin khoa học của Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Thông tin của Huế)