1.Nổi danh nghề rèn xưa
Theo cuốn địa chí cổ Ô Châu Cận Lục của soạn giả Dương Văn An ( năm 1555), viết về dải đất từ Quảng Bình đến Bắc Quảng Nam dưới thời Lê - Mạc, thì làng Hoa Lang có từ sau cuộc kết hôn lịch sử năm 1306 giữa Huyền Trân công chúa Đại Việt và vua Chăm - Chế Mân. Năm 1843, do trùng tên với mẹ vua là Hồ Thị Hoa, làng đổi tên thành Hiền Lương, ý có nhiều người tài đức. Như vậy, đến nay làng Hiền Lương đã có 700 năm tuổi. Trong gia phả họ Hoàng có ghi: Hoàng Văn Lịch, người làng Hiền Lương là tổng công trình sư chế tạo tàu thủy chạy bằng hơi nước đầu tiên của Việt Nam, được vua ban tước Lương Sơn Hầu, oai danh chỉ kém bậc đế vương. Chính ông đã đúc thành công Đại hồng chung Quốc tự Diệu Đế nặng 3.900 cân vào năm 1846, tiếng chuông có âm ngân vang chỉ sau chuông đồng chúa Nguyễn Phúc Chu đúc năm 1710 tại chùa Thiên Mụ. Làng còn có Dương Phước Thiệu, làm chức lãnh binh triều Nguyễn với tài sửa chữa súng Tây có tiếng. Rồi Trương Quang Sừng, thầy dạy học cơ khí tài ba đã đào tạo nên nhiều thế hệ giỏi đảm trách các nghề “mới” thời vua Thành Thái (1889-1907) như hàn, gò, đúc. Trong làng, theo các bô lão kể lại, lúc xưa còn có máy bơm nước chạy bằng than do thợ làng làm ra để dùng riêng. Đặc biệt về hôn nhân, làng có tục khắt khe là không được dựng vợ gả chồng cho người làng ngoài vì sợ nghề rèn bị phát tán. Quanh năm các bếp lò đỏ lửa, đơn đặt hàng từ khắp nơi đưa về. Hiền Lương từ lâu nổi danh với một nghề rèn gia truyền bất hủ
2.Hoang vắng … thợ rèn
Nay, Hiền Lương thuộc xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, cách TP Huế 20 km. Ngạc nhiên là trong bảng Hiện trạng các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh TT-Huế tại sở VH-TT&DL tỉnh, không thấy làng rèn Hiền Lương ở đâu. Làng nghề này có lẽ đã bị quên lãng trong các văn bản? Thật vậy, trong số 224 hộ làng rèn Hiền Lương nay chỉ còn độc nhất… 4 hộ làm rèn đang hoạt động cầm chừng một cách yếu ớt.
Trong số những hộ còn làm nghề rèn có gia đình bác Trương Văn Thêm, 60 tuổi làm nghề rèn trên 35 năm. Bác kể vào ngày mùa cách đây 15 năm, nhà bác làm nào là liềm, dao, rựa… Làm không hết việc. Giờ thì do hàng Trung Quốc rồi Thái Lan nhập về nhiều quá, thành thử, chỉ có ai đặt hàng bác mới làm. Tới nhà bác Hoàng Văn Đương, 69 tuổi cách đó gần 1km. Bếp lò nguội ngắt. Trong nhà bác Đương dựng vài cây rựa làm mẫu, rất bén dù đã không sử dụng hơn 2 năm nay. Bác Đương đưa ra một so sánh nghe thật chát chúa: “ Liềm “ta” làm ra giá 20.000đ, còn liềm Thái chỉ có 6.000đ. Trước đây các đại lý trên phố về đặt liềm bác nhiều lắm. Nhưng kể từ lúc loại liềm Thái này về, bác chỉ làm liềm và một vài nông cụ khác cầm cự qua ngày, cốt để vui chứ không có gì là lời cả. Thợ rèn Trương Văn Vận 70 tuổi thì cũng nghỉ làm lâu rồi do vấn đề sức khỏe. Ông không còn khỏe để đập búa nữa, nhà có đứa con trai cũng ra miền Bắc làm thợ cơ khí. Người cuối cùng chúng tôi gặp là bác Hoàng Kim Hứa cũng tỏ ý chán nản khi nghề không đủ nuôi nổi bản thân.
Thế hệ 4 thợ rèn già này là tất cả những gì đọng lại cho nét tinh tuý của một làng rèn Hiền Lương xưa danh nổi như cồn. Nhiều bác cùng thế hệ đã bỏ hẳn nghề rèn do vấn đề kinh tế, số còn lại lên phố làm nghề “trái tay”. “Phương án bảo tồn đến nay vẫn quá xa vời vì không chống lại được thời cuộc kinh tế”, trưởng thôn Trần Đình Việt cho hay. Ông nói ngay cả nhà thờ tổ rèn, nơi tích tụ linh khí của một “hồn rèn” ở làng đây, dân chỉ nhớ về cội nguồn và góp tiền chung tay làm, chính quyền dường như đã lãng quên. “Về du lịch làng nghề ư? Chắc là khó thực hiện vì các sở ban ngành đến nay chưa vào cuộc do chưa tìm ra phương án khả thi”, ông tâm sự.
Chính sự thay đổi quá mau chóng cơ chế thị trường đã làm làng rèn ở đây lụi tàn - Nhanh đến mức không cưỡng lại được! Nhất thiết phải tìm gấp lớp người kế tục; Phải đào tạo và bồi dưỡng nguồn thợ rèn Hiền Lương nhanh chóng để không ngậm ngùi khi thấy một làng nghề nữa sẽ “hoang hóa” trong nay mai!
Đại Dương - Ngọc Nghĩa)