Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, có tên là Huỳnh Hanh, hiệu Mính Viên, tự Giới Sanh, thời trai trẻ nổi tiếng học giỏi, là một trong tứ hùng của Quảng Nam: “nhất Liệu, nhì Hanh, tam Hoành, tứ Hiến” (Phạm Liệu, Huỳnh Hanh, Võ Hoành, Nguyễn Đình Hiến), đậu Giải nguyên năm 1900, Hội nguyên Tiến sĩ năm 1904, không ra làm quan, tham gia lãnh đạo phong trào Đông du, chống thuế. Năm 1908, cụ bị thực dân Pháp kết án tù, đày ra Côn Đảo đến năm 1921 được trả tự do, đắc cử Dân biểu Trung Kỳ và được bầu làm Viện trưởng năm 1926 nhưng sau đó từ chức để phản đối Khâm sứ Jabouille. Năm 1927, cụ sáng lập và điều hành tờ báo nổi tiếng Tiếng Dân đến năm 1943 báo bị đình bản, năm 1946 giữ chức Bộ trưởng bộ Nội vụ, có một thời gian là quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mất tháng 4 năm 1947 tại Quảng Ngãi, an táng tại đồi Thiên Ấn. Suốt cuộc đời cụ hi sinh vì nước vì dân, tính khí cương trực, để lại nhiều tác phẩm văn học gồm sáng tác và biên khảo có giá trị lâu dài.
Ba mươi lăm năm trước (1973), còn trong thời chiến tranh, văn hữu Xuân Tùng (Lam Hà), thi hữu Thành Tôn và nhiếp ảnh viên Bá Ngọc có đến thăm nơi này giữa khung cảnh hoang vu. Xin trích lại bài viết của Xuân Tùng (đã được tác giả đồng ý) để quý vị biết được dấu xưa:
“Nguyên sơ, ngôi nhà này do chính cụ Huỳnh xây dựng năm 1903. Trải qua 70 năm, sau nhiều lần tu bổ đã biến thành nơi thờ tự. Đây là một ngôi nhà cổ năm căn, tường mái đã rêu phong. Các gian cửa buồng khoa mất đi nhiều cánh, cửa sổ cũng long, trơ lại mấy khung song ọp ẹp. Ngay giữa căn trung, trước thềm nhà, một bụi bông bụt xum xuê tỏa nhánh. Màu hoa đỏ tươi, tương phản với khung cảnh u tịch chung quanh.
Chúng tôi bước hẳn lên thềm vôi đã tróc đi nhiều chỗ. Nhà trống hoang, mùi ẩm mốc vương trong không khí. Dấu tích chiến tranh còn in rõ trên dãy phên lụa gãy gục, những vểt đạn lốm đốm trên tường. Không gian im vắng đến lạnh người, nghe rõ tiếng lò rò gặm cây sục soạt trong một góc cột, tiếng bay vù vù của con tò vò làm tổ trên xà nhà. Tự dưng chúng tôi nghe lòng bùi ngùi xúc động lẫn niềm tôn kính như những tín đồ lâu ngày tìm được về Thánh địa.
Cô Huỳnh thị Hồng, chắc thúc bá của cụ Huỳnh sau giây phút rụt rè bỡ ngỡ vui vẻ đón mời chúng tôi. Cô mở rộng thêm mấy cánh cửa buồng khoa cho ánh sánh tràn vào. Nhà trống trơn, không một chiếc bàn, bộ ván, ngoại trừ đôi liễn thẻ nền đỏ chữ vàng còn sót lại nơi hàng cột trong, màu sơn đã tróc, nét chữ nhập nhòa:
Bạch chiến từ phong ưu đoạt giáp
Hồng lư hậu hỏa ký truyền tân
Đây là câu đối mừng cụ đậu Tiến sĩ năm 1904. Anh Hồ tạm dịch:
Văn thay cung kiếm lừng khoa bảng
Lửa đọ vàng son chói sử xanh
Bàn thờ cụ Huỳnh đặt giữa căn trung, dựa lưng vào vách, trên một sạp ván dài lâu ngày đã mục. Trên chiếc ghế xương ý kiểu xưa xiêu vẹo chỉ có đôi đèn gỗ tiện, một nồi hương bằng sành đựng mớ chân nhang ám bụi, đặt trước di ảnh cụ Huỳnh khắc chìm trên mặt một tấm đồng có khung giá gỗ. Chân dung bán thân của cụ, đội khăn đóng, mặc quốc phục, nét khắc rất tinh vi. Theo lời cô Hồng bức ảnh đồng này do ông Nguyễn Kim Khánh, nguyên Quận trưởng Tiên Phước năm 1962 thuê thợ khắc gởi đến tặng nhà thờ để làm kỉ niệm cùng bày tỏ lòng ngưỡng vọng đối với một vị cách mạng lão thành.
Sau lưng bức di ảnh, trên khám thờ cao bằng gỗ chạm viền tứ phía, có hai hộp hình chữ nhật dựng đứng sơn son thếp vàng loang lổ, chúng tôi đoán là hộp đựng sắc chỉ vua ban. Vẫn theo lời cô Hồng thì đây chỉ là những chiếc hộp trống, giấy tờ bên trong thất lạc từ lâu. Song song với chiếc hộp, xế xế về phía tay mặt là một tấm biển nhỏ có cán dài, cũng nền đỏ chữ vàng đã phai màu, dựng hờ vào vách, trên chạm bốn chữ Hán ÂN TỨ VINH QUY. (Biển do vua Thành Thái ban thưởng hồi cụ đỗ Tiến sĩ, lúc 29 tuổi). Tất cả chỉ có vậy.”
(Xuân Tùng – Nhân chuyến đi thăm nhà thờ cụ Huỳnh. Tạp chí Bách Khoa SG số 405 ngày 28.2.1974, trang 44-45).
Nhà thờ hôm chúng tôi đến thăm hồi cuối tháng 9.2008 là ngôi nhà mới xây dựng sau 1975, trong thời gian hòa bình. Nhà sát bên tỉnh lộ, có ba gian, vách gạch, mái ngói, sân cũng lót gạch hoa. Trước ba khung cửa ngoài hiên có hai câu đối chữ Hán. Hai đầu nhà là hai cây thiên tuế trong chậu cảnh. Bước vào trong, bàn thờ cụ Huỳnh đặt ngay gian giữa, có bài trí bình hoa, bộ đèn thau, lư hương. Hai di ảnh chân dung cụ Huỳnh, một bức bán thân, một bức toàn thân trong tư thế ngồi. Trên tường còn có ảnh Chính phủ liên hiệp năm 1946, cụ Huỳnh mặc quốc phục, vài ảnh phóng lớn báo Tiếng Dân, hai ảnh bằng Cử nhân và Tiến sĩ của cụ Huỳnh. Câu đối trước bàn thờ chữ vàng nền đỏ, với nội dung như Xuân Tùng đã nêu trên. Nhẩm lại lời dịch của Anh Hồ, tuy nói là tạm dịch, đã dịch rất thoát mà vẫn rất đúng với ý nghĩa, không câu nệ theo kiểu dịch từng ngữ vựng. Riêng hai ảnh chụp văn bằng, chúng tôi có chút phân vân: Đây là ảnh chụp từ bản gốc còn lưu giữ được chăng? Nếu vậy, thật vô cùng giá trị. Hay chỉ là bản chụp các văn bằng do cơ quan bảo tàng phục chế để khách tham quan có thể hình dung được bằng cấp ngày xưa? Dẫu sao, thì cũng đáng quý. Cũng như ngôi nhà thờ, nếu đươc xây dựng theo lối kiến trúc cổ kính, uy nghiêm hơn sẽ thích hợp hơn với một bậc thâm nho cách mạng. Thật ra tất cả đều để cho hậu thế, vì hậu thế, chứ với cụ thì, như cụ đã viết trong Bài thơ lưu biệt: Ư bách niên trung tu hữu ngã… Trong cuộc trăm năm cụ đã sống trọn vẹn trung nghĩa với nước với dân, vạn thế lưu phương giữa lòng Tổ Quốc - Đồng Bào.
Trần Huiền Ân