Lịch sử của một làng nghề
Ngay cái tên của làng đã nói lên ngành nghề của cư dân bản địa: làng Giang Hến. Với lịch sử hơn 500 năm, làng được hình thành trong giai đoạn chúa Nguyễn Hoàng vào khai phá vùng đất Thuận Hóa, lấy Ái Tử làm Dinh Cát. Xưa kia, người dân ngôi làng này lấy con hến làm kế sinh nhai, và cũng chính con hến đã mang đến sự sung túc cũng như niềm tự hào cho người dân nơi này.
Từ sáng sớm, theo chân những người cào hến, chúng tôi chứng kiến một ngày vất vả mưu sinh của họ. Những hộ chuyên khai thác hến, từ sáng sớm đã cho xuồng máy và nhân công đi cào ở các vùng ven sông Thạch Hãn. Đến giữa trưa, tại bến sông làng Giang Hến, có hàng chục người đến thu mua, rồi đãi hến ngay tại bến sông. Cứ một thùng hến tươi 25kg mua tại bến sông có giá 25.000 – 30.000 đồng. Sau khi đãi, sẽ có một đội ngũ chuyên gánh hến thuê, đem bỏ mối cho các hộ dân trong làng. Dân làng thực hiện công đoạn chế biến, luộc hến, rồi bán cho các tiểu thương trên thị xã. Mỗi thùng hến 25kg (đã luộc, tách vỏ), bán kèm theo nước hến có giá từ 60.000 - 70.000 đồng.
Theo những người lớn tuổi ở làng, nghề cào hến đã có từ mấy trăm năm trước, khi người dân bắt đầu chọn triền sông này làm phương tiện sinh sống. Đất đai ven sông Thạch Hãn hẹp, cây lúa không thể mang lại miếng cơm no đủ cho cư dân ở đây. Từ khi mới hình thành, dân địa phương đã phải dựa vào dòng sông Thạch Hãn để cào hến. Nghề cào hến ra đời từ đó. Con hến, con trìa ở làng Giang Hến lại nổi tiếng là thơm ngon. Vùng khai thác tập trung chủ yếu ở ngã ba Gia Độ (xã Triệu Độ), Thượng Phước (xã Triệu Thượng), An Đôn (thị xã Quảng Trị).
Con hến đã nuôi sống biết bao thế hệ người dân nơi đây. Chị Lê Thị Gái - con gái của một gia đình có truyền thống ba đời làm nghề cào hến, cho biết: “Mỗi ngày cư dân ở đây khai thác được từ 1 - 1,5 tấn hến. Hến làng này có hương vị ngon, dai hơn hến ở Huế bởi nguồn nước sông sạch. Nhà tui mấy đời nay đều dựa vào con hến để kiếm sống. Tuy nhiên nghề này đang ngày càng khó khăn hơn!”. Gia đình chị Gái cũng như bao nhiêu gia đình ở thôn Giang Hến, đều lấy nghề cào hến làm nghề chính để kiếm sống. Trên gác bếp, lúc nào cũng có những chiếc cào được hong khói để chống mọt. Theo chị thì những chiếc cào hến có từ đời cha ông. Chị sinh ra, lớn lên đã thấy chúng.
Nghề cào hến tuy là nghề sông nước nhưng không nguy hiểm như những nghề khác. Có điều, theo những người dân cào hến lâu năm tại đây, cào hến phải theo mùa trăng. Nước cạn (nước xuống) mới đi cào, còn nước lên thì nghỉ ở nhà. Mùa nước lên, nước xuống là tùy theo mùa trăng. Cứ nhằm ngày 14, ngày rằm, hay 30 mồng 1 là nước cạn buổi sáng và buổi tối. Dân cào hến phải tuân thủ theo “lịch nước” nếu không muốn “đi không lại về không!” Theo ông Nguyễn Văn Đức, chủ một gia đình ở làng Giang Hến, có gia phả từ thuở mới thành lập làng, thì hến sinh tự nhiên trong cát, chu kỳ vòng đời khá ngắn từ tháng 2 qua tháng 5 là chết, do đó cư dân cào hến phải nắm rất rõ chu trình này thì cào hến mới thu hoạch được nhiều. Những tháng còn lại, con hến có ít, người dân ở đây phải làm thuê nhiều nghề khác mới đủ sống.
Hến chết, người bỏ xứ đi
Những năm trước nghề hến phổ biến trong làng, cư dân đều lấy nghề này làm nguồn thu nhập chính. Từ sáng sớm tinh mơ đã thấy tấp nập nơi các bến sông hàng chục ghe xuồng lớn nhỏ đổ hến cho các tiểu thương đến thu mua. Nay, nghề chính của làng chỉ còn vài chục hộ. Nhiều hộ dân nuối tiếc nghề của cha ông cố “bám trụ” cho đến ngày nay. Ông Nguyễn Hoán - chủ một cơ sở thu mua chế biến hến nói như tiếc rẻ: “Hồi trước tui mua lại hến tươi của dân làng này một ngày đến năm bảy tạ. Hến bán từng xuồng mua không xuể. Nhiều hộ dân còn dùng cả xe máy chở hến tươi lên thị xã Đông Hà, Quảng Trị “bỏ ngang” cho các thương lái. Nay chỉ mua lèo tèo ngày vài chục cân, khi cao nhất cũng chỉ được một tạ. Nhiều tiểu thương đòi mua thêm cũng không có mà bán!”
Một làng nghề truyền thống có bề dầy lịch sử như vậy, song hiện nay nghề cào hến lại đang mai một dần. Thu nhập của người dân xưa nay vốn dựa vào con hến, song nạn khai thác cát không chỉ gây nên cảnh sạt lở mà còn cướp luôn chén cơm của người dân làng hến. Theo ông Nguyễn Thại - trưởng thôn Giang Hến thì khoảng 15 - 20 năm trước, trong làng có hơn 100 hộ dân, trong đó hơn 2/3 làm nghề cào hến, mỗi hộ dân đều có một đến hai ghe xuồng khai thác hến. Đến nay, số hộ cào hến chỉ còn chừng 15 hộ, mùa màng thất bát, con hến không còn là kế sinh nhai của 283 nhân khẩu ở đây, nên hầu hết người dân bỏ xứ mà đi, vào Nam làm thuê kiếm sống. Tại bến sông làng Giang Hến, gặp những mệ tuổi chừng bảy tám mươi tuổi, chúng tôi mới biết sự nuối tiếc của cư dân làng hến về một thời huy hoàng của làng nghề truyền thống là điều rất thật. Chỉ ra giữa dòng Thạch Hãn, mệ Nguyễn Thị Lài bức xúc: “Chú xem đó, cát mà hút như rứa thì sông sâu, người cũng chết huống chi con hến. Bọn tui nói mãi, nhiều lần phản ánh lên xã mà chúng có chừa mô!”. Làng hến đang mai một dần không chỉ do nạn khai thác cát mà còn do chính những cư dân làng hến. Nhiều hộ dân cào hến ở địa phương không còn dùng đến phương thức đánh bắt thủ công truyền thống là chiếc cào nữa mà dùng xuồng máy để “nạo” hến! Con hến bị lấp, dù đang là mùa sinh trưởng vẫn có thể bị chết vùi trong cát. Ông Thại chua xót nói: “Con hến không còn là nghề độ nhật cho dân làng Giang Hến”. Nghề hến đang “chết dần” và đẩy số hộ nghèo trong thôn lên đến gần 20 hộ. Nơi đây đất đai vốn hẹp, không màu mỡ, cư dân ở đây từ xưa đã quen với nghề hến, nay đã có hàng trăm gia đình vì kế mưu sinh đã phải bỏ xứ mà đi, tứ tán khắp nơi. Ông Thìn còn cho biết thêm, hiện tại trên địa bàn thôn có khoảng 5 hộ chuyên làm nghề khai thác cát lậu. Hút cát làm lòng sông sâu trũng rất khó khai thác hến. Không chỉ thế, sử dụng máy hút làm đảo lộn môi trường sống của loài hến, khiến hến chết rất nhiều.
Chia tay làng hến khi trời đã nhá nhem tối, thấy ông Thại có vẻ trầm ngâm khi nhìn ra khoảng sông trước nhà, đôi mắt buồn xa xăm như tiếc nuối về quá khứ vàng son một thời của làng hến…
Duy Phiên – Hải Lăng