Hoạn quan ơi, ông là ai?
Sao lại phải tuyển người bị hoạn làm quan? Xin thưa, do vua sợ quan mà có “cái ấy” thì hằng hà sa số cung nữ tiến vào cung, vua chưa “thưởng thức” thì quan đã “duyệt hết” rồi. Thành ra, ai vào cung phục vụ vua mà thuộc giới nam, tất cả phải… cắt hết. Oái ăm là vậy nhưng, không ít người mỗi năm đều tự nguyện hiến dâng đời trai của mình. Có lẽ cái gì cũng có cái giá của nó.
Trước tiên phải phân biệt chính xác. Có hai loại quan hoạn hay còn gọi là Thái giám. Một là bẩm sinh hay còn gọi giám sinh. Hai là có cái đó nhưng “cam chịu” thiến đi, thành thử cũng biến đổi tính nết luôn, gọi là giám lặt. Theo sử cũ ước lượng ở giai đoạn đầu triều Nguyễn, mỗi thời thường xuyên có khoảng 200 người, cả giám sinh lẫn giám lặt. Năm 1824, vua Minh Mạng ban chiếu chỉ các hạt (đơn vị hành chính huyện lúc xưa) tuyển chọn “giám sinh” vào cung. Việc này do bộ Lễ làm (tương đương với bộ Giáo dục-Đào tạo ngày nay). Trong tài liệu của Công sứ A. Laborde (Pháp) ghi nhận, dân quê một số vùng vẫn thường bảo nhau bằng câu cửa miệng : "Ăn mà đẻ "ông Bộ" cho làng nhờ. “Ông Bộ” đây chính là giám sinh, nghĩa sâu xa là phần hạ bộ có vấn đề. Nhà có “ông Bộ” được cấp ruộng đất và tiền bạc rất hậu hỹ. Riêng làng nào có ông Bộ thì được triều đình miễn thuế trong nhiều năm. Ông Bộ mà được tiến cung, nghiễm nhiên được hưởng bổng lộc như các quan đại thần nên sống rất sung sướng. Theo luật vua ban, làng nào có “ông Bộ” từ 10 tuổi trở xuống thì phải trình lên Bộ Lễ để lập hồ sơ tâu lên Vua. Nếu giấu giếm trong nhà, lúc phát hiện ra sẽ bị phạt nặng, cho ở tù. Bộ Lễ sẽ chịu trách nhiệm “đào tạo ông Bộ” cho đến 12 tuổi thì đưa vào triều học lễ nghi cung đình. Có chuyện vui là mấy o bán cá, thịt ngoài chợ Đông Ba lúc trước có thói hay nói thách giá, người mua nguýt miệng nói “Ăn để đẻ ông Bộ cho làng nhờ hay răng mà đòi mắc dữ rứa!”. Nói xong là đi ngay không thôi sẽ ẩu đả.
Về giám lặt, đó là một người nam bình thường. Nhưng họ cam chịu giải phẫu để mất đi “cái quý nhất” trời cho đó. Hồi xưa, không có phương tiện y tế. Người chịu hoạn được cho uống rượu và hút thuốc phiện để giảm đau khi làm việc đó. Ba tháng sau khi vết thương lành, giám lặt được tiến cung.
Công việc của Thái giám, vui nhất và mệt nhất có lẽ là lo cho vua ân ái. Thường có cả ngàn cung nữ, ái phi chưa được gần vua. Nhiều thế cho nên phải chia thành ngày. Người nào được trước càng có cơ hội vua thương nhiều. Các bà hay đút lót cho quan Thái giám để được đứng đầu danh sách. Vào mỗi đêm, thái giám sẽ thắp lồng đèn đỏ ở chỗ cung nữ được chọn. Đến giờ, Thái giám mang một tấm chăn ấm vào phòng và quấn cô cung nữ đang run rẩy, mắt nhắm nghiền, người không một mảnh vải che thân, vác qua những dãy trường lang và đến phòng vua. Nhẹ nhàng trải tấm chăn có cô cung nữ đang độ xuân thì ấy đặt lên giường và lui ra ngoài. Trong những tiếng động lúc to lúc nhỏ đang vang ra trong phòng, Thái giám phải ghi chép lại tỷ mỷ bằng cách nghe ngóng, canh giờân ái của vua với mỹ nữ để bẩm tâu lại với các quan.
Nghĩa địa Thái giám
Thường các hướng dẫn viên chịu khó hay dẫn khách thăm chùa Từ Hiếu, một ngôi chùa cổ nằm cách Kinh thành Huế chừng 5km đường bộ về phía Tây Nam. Từ Hiếu là một ngôi chùa có cảnh trí thơ mộng với con đường đi vào đầy thông reo vi vút. Tĩnh mịch, im lặng, nhiều góc khuất nhỏ, thích hợp để thanh lọc tâm hồn sau một ngày thăm Huế. Trước chùa có một con suối nhỏ nước mát lạnh chảy róc rách quanh năm. Bước qua cổng tam quan là một hồ bán nguyệt tuyệt đẹp.
Rảo bước trên con đường đầy dấu rêu phong, bên trái chùa có một “nghĩa địa hoạn quan” vô cùng độc đáo. Đây là khu nghĩa địa Thái giám duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam. Kiến trúc la thành hình chữ nhật ôm xung quanh với diện tích 1.000m2. Trước là 3 lối vào. Có một tấm bia khá lâu được khắc từ thời Thành Thái thứ 3 (1901) do Cao Xuân Dục soạn, nội dung ghi lại tâm trạng Thái giám rất cảm động: “Trong khi sống chúng tôi sẽ tìm thấy ở đây sự yên lặng, khi đau ốm chúng tôi đến đây lánh mình và sau khi chết chúng tôi được an táng cùng nhau. Sống hay chết, ở đây chúng tôi đều được yên tĩnh”. Vào bên trong, một sự sắp đặt rất đơn giản cho những “tôi tớ phục dịch” nhà vua xưa kia. Có tất cả 25 ngôi mộ còn nguyên vẹn nằm thành 3 hàng. Hàng thứ nhất mộ to, hàng thứ hai mộ nhỏ hơn và hàng thứ ba, mộ nhỏ nhất được sắp xếp theo chức vụ của các quan Thái giám xưa kia. Có 2 ngôi mộ gió, chưa có Thái giám nào được chôn vì lẽ Khu nghĩa địa này được dựng lên vào cuối thời điểm Thái giám suy tàn, năm Thành Thái thứ 5 (1893). Thời vị vua thứ 10 trong 13 vua triều Nguyễn này, số lượng thái giám giảm hẳn, chỉ còn 15 người. Vua Duy Tân sau đó (1899-1945) chỉ duy nhất một lần "nạp thiếp" (bà Hoàng Quý Phi Mai Thị Vàng) cho nên các thái giám bị thất nghiệp. Đến năm 1914, việc tuyển chọn thái giám thực sự chấm dứt, chỉ còn 9 vị được lưu lại trong cung để sống nốt những ngày cuối cùng của năm tháng tuổi già.
Đến Huế, ta còn gặp vết tích của Thái giám qua tấm bia bên trái trong bia đình ở Văn Miếu. Tấm bia này khắc bài dụ vua Minh Mạng ngày 17.3.1836 nói rằng các Thái giám trong nội cung không được liệt vào hạng người có thể tiến thân. Một chỗ dành riêng cho các Thái Giám lúc đau ốm lui ra Hoàng Thành để yên nghỉ, đó là Cung Giám Viện ở góc đường Đặng Thái Thân và Đoàn Thị Điểm ngày nay.
Trong cuộc đời người Thái Giám, có lẽ họ có nhiều nỗi niềm và tâm trạng tuy sống trong nhung lụa của vương triều. Tuy họ không bình thường nhưng tình cảm thì ai cũng có. Họ đã tìm đến nhau và sống cùng nhau sau khi rời bỏ chức vị lúc tuổi xế chiều. Hay, có trường hợp Thái giám có tình cảm với Thị nữ không được vua sủng ái, mối tình đẹp nhưng không bao giờ có được con. Những mảnh đời thầm lặng và cam chịu! Nhưng nếu không có họ thì lịch sử đã không có những câu chuyện hay để hôm nay, ngày Tết ngồi lại, kể về họ và nhớ về một thời đã qua trong vàng son cung đình triều Nguyễn xưa kia.
Tôn Thất Đại Dương