Các vua nhà Lý liên tiếp cho xây dựng những cung điện ở phía Đông bờ sông Nhĩ Hà để ra ngồi xem đua thuyền và duyệt thủy quân. Năm 1011, Thái Tổ cho xây điện Hàm Quang. Năm 1058, Lý Thánh Tông xây điện Linh Quang, Anh Tông (1138-1175) xây cung Thanh Từ và cung Thuỷ Tinh. Từ đó vào ngày hội đua thuyền, vua cùng các đại thần ngồi xem tại điện Linh Quang và điện Hàm Quang. Hoàng hậu cùng các công chúa, phi tần ngồi xe ở cung Thanh Từ và Thủy Tinh. Những cung điện này xây dựng nguy nga và quy củ. Điện Linh Quang bên trái có điện Kiến Lễ, bên phải có điện Sùng Nghi.
Trước điện Linh Quang có dựng lầu chuông để đánh chuông báo hiệu cho dân chúng biết khi vua ngự xem thuyền. Dân chúng và quân binh tụ tập hai bên bờ sông. Trên điện thiết yến và múa hát. Nhiều khi có các sứ thần các nước đến dự, vì hội đua thuyền mùa xuân xem như đại lễ.
Trước ngày hội một tháng, các vị Châu mục, Tri quân cùng các hào lý cho dân quân luyện tập thao diễn, thủy thủ phải chọn người giỏi bơi lội, phòng khi lật thuyền, vỡ đắm không bị chết đuối.
Đến ngày hội, cuối giờ Tỵ trên điện Linh Quang nổi trống hiệu, quan Tổng quản ngồi trên đài các đọc bản truyền lệnh tuyên bố thể lệ cuộc đua. Rồi một hồi chuông nổi lên để cho các thuyền dự thi chuẩn bị. Dứt hồi chiêng tiếng phao lệnh nổ vang trời, các thuyền bắt đầu rẽ nước tranh tài.
Mỗi cuộc thi có đến 150 thuyền dương cờ gióng trống, đua bơi trên sông. Thuyền đóng bằng gỗ chò bền nhẹ. Sơn thuyền bằng sơn trắng có nẹp viền đỏ. Mũi thuyền vẽ mắt giao long, đuôi thuyền như đuôi cá, cắm vờ vàng trên viết tên trấn, xã. Mỗi thuyền 14 thủy thủ, có khăn đội đầu khác nhau để dễ phân biệt. Người lái đội khăn mỏ rìu, mặc áo nẹp xanh đỏ, thắt lưng nhiễu hồng. Còn 13 thủy thủ đều mình trần vạm vỡ đóng khố, tay cầm chèo gỗ.
Tất cả thủy thủ đều quàng một dải lụa nâu chéo từ vai phải sang hông bên trái. Trong mảnh lụa này có cơm nắm, muối vừng, trầu cau gói vào lá chuối hơ lửa, phòng nước không ngấm vào thức ăn.
Trong đội thuyền người đứng đầu gọi là phách nhất, thứ đến phách nhì, 5 người trong khoang, 6 người đốc hậu và một người lái. Quan trọng nhất là người lái và phách nhất phải am tường địa thế trên sông, biết chiều gió, chiều nước lên, nước ròng, luồng lạch. Phách nhất như thuyền trưởng chỉ huy đội đua tài. Người lái phải linh hoạt, tinh nhanh chặn thuyền sau, lướt thuyền trước. Phách nhất hô “dô ta” thì các thủy thủ hô theo “ô huầy” rồi rầm rập mái chèo theo điệu hò, vang động cả mặt sông.
Trên điện Linh Quang tiếng thanh la, tiếng trống thúc giục. Mỗi khi thuyền vượt qua mặt nhau, rừng người chen chúc hai bên bờ sông lại vang lên tiếng hò reo, hoan hô như sấm. Thuyền cứ tiến lên, chèo đi chèo lại ba vòng trên sông ước hàng chục dặm. Quan Tổng quản trấn cứ theo thứ tự thuyền về nhất, nhì, ba mà phát thưởng. Trong khi các thuyền đua, thủy quân mặc nhung phục ngồi trên bốn chiếc thuyền Long Phượng, Ngư Xà, Hổ Báo, Long Vũ đánh cồng, đánh trống, bơi lượn hai bên đoàn đua thị uy và cứu hộ. Trước điện Linh Quang thả một con rùa vàng, gọi là con Kim Ngao bơi lượn chỗ vua ngồi như chào mừng vua chúa đến ngự đua thuyền.
Năm sau và năm nữa lại tranh tài, các thủy thủ lại luyện tập chờ Xuân sang.
Đoàn Minh Tuấn