Lễ hội ở Việt Nam sinh ra và trường tồn với dân Việt, kể từ khi hình thành cộng đồng dân cư đã có lễ hội. Hình ảnh lễ hội xa xưa tìm thấy trên các di vật có niên đại mấy ngàn năm trước, chẳng hạn như trên mặt trống đồng Đông Sơn, chạm khắc nhiều cảnh vui hội quen thuộc như bơi thuyền, nhảy múa, bắn chim thú... Hàng nghìn năm qua, cư dân Việt luôn luôn sáng tạo ra các lễ hội phong phú cho mình, mỗi một chặng đường của lịch sử đều có các lễ hội tương ứng; thuở chiếm cứ khai thác đất có lễ hội cho nông trang mùa vụ; thuở săn bắt hái lượm có lễ hội mong cho đánh bắt được nhiều muông thú, thuở lập quốc giữ nước có nhiều lễ hội ghi công báo tiệp chiến thắng kẻ thù... Tựu trung lại mấy ngàn năm dựng nước - giữ nước, lễ hội ghi công đức đối với những chiến công, những anh hùng dân tộc cứu dân cứu nước như là dòng chảy chủ đạo của lễ hội truyền thống Việt Nam; từ các làng bản thôn xóm cho đến tận thị thành kinh đô, đâu đâu cũng ken dày những đền – đình – miếu – điện... thờ các bậc anh hùng dân tộc và theo đó là lễ hội mở ra hàng năm vào ngày các vị hóa thân – hiển thánh, như là một tưởng nhớ bền vững thiên thu của con dân đất Việt.
Những lễ hội truyền thống được duy trì bền vững và có cải biên cho hợp với điều kiện mới và nét sinh hoạt mới, không câu nệ rập khuôn, nhất là các biểu hiện lỗi thời. Những lễ hội mới luôn luôn được sinh thành một cách tự nhiên theo nhu cầu của cộng đồng. Lễ hội không bó hẹp trong khuôn khổ thờ tự mà mở rộng hoành tráng như lễ hội Lúa Gạo Nam Bộ, lễ hội cây trái miệt vườn, hội Huế (Festival Huế) 2 năm một lần, lễ hội Hoa Đà Lạt... thu hút hàng triệu du khách về trẩy hội. Đây là nét mới của lễ hội truyền thống hiện đại Việt Nam, một bổ sung mới cho nội dung và hình thức của lễ hội văn hóa dân tộc có từ ngàn đời và bền vững cho mãi mãi về sau.
Nhiều du khách khắp nơi đến Việt Nam đầu xuân đều tấm tắc khen nước ta là nước của lễ hội bốn mùa. Lễ hội làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam, lễ hội nâng cao truyền thống văn hóa dân Việt, lễ hội không thể thiếu vắng trong cộng đồng dân cư từ nơi đồng bằng cho đến tận nơi heo hút đầu sông thẳm núi. Ở đâu có con người sinh sống thì ở đó có lễ hội.
Lễ hội truyền thống hiện đại có khắp mọi vùng quê, ở đâu có cộng đồng dân cư như làng bản, thôn xóm... thì ở đó có lễ hội. Có lễ hội thật đông, với ngàn vạn du khách, nhưng có lễ hội có phạm vi hẹp ở một thôn bản với số lượng ít ỏi dân cư bản quán tham gia, nhiều khi chỉ vài ba chục thanh niên cũng thành lễ hội, lễ hội bất cầu đông mà là sự tôn kính của cộng đồng trước mỗi lễ hội. Lễ hội đông thì vài ngày, chẳng hạn lễ hội chùa Hương hàng năm kéo dài từ đầu tháng Giêng âm lịch cho đến cuối tháng Ba âm lịch thu hút hàng triệu du khách. Giữ được hàng ngàn lễ hội truyền thống, hiện đại trong khuôn khổ của sinh hoạt văn hóa bền vững là mục đích cao cả và đầy ấn tượng cho từng lễ hội trong lòng dân chúng và trong cả cộng đồng. Những eo sèo về làng nọ, xã kia mượn cớ lễ hội để cầu lợi, mua hơn bán kém như là cảnh báo cần được các giới hữu quan chú ý.
Lễ hội là sinh hoạt của cộng đồng dân cư, không có sự tham gia của cộng đồng nhất là cộng đồng dân cư sở tại có lẽ không thành lễ hội. Ở đây cần phân biệt chủ thể của lễ hội - những người làm nên lễ hội với những người đến lễ hội - khách thập phương đến với lễ hội vì mến mộ, vì hiếu kỳ, vì muốn khám phá... Và nét riêng của từng lễ hội là sự tham gia của chính cộng đồng dân cư của hội. Dân cư của mỗi một lễ hội vừa là người sáng tạo nên đặc trưng của lễ hội, chẳng hạn hội vật cù của làng này không giống với hội vật cù của làng kia bởi lịch sử, truyền thống, điều kiện vật cù của mỗi làng mỗi khác, cả trai tráng làng này khác trai tráng làng kia trong cách ăn mặc, trong quy cách vật cù và cả giải thưởng vật cù cũng chẳng làng nào giống làng nào. Ở vùng châu thổ Bắc bộ có hàng chục hội làng có tổ chức vật cù song chẳng có làng nào giống làng nào, làm cho vật cù sinh động hẳn lên ở từng hội làng. Hội quan họ mà tiêu biểu là hội Lim hàng năm, trước đây có nhiều tốp quan họ của nhiều làng, làm cho hát quan họ sinh động, phản ánh đặc trưng quan họ của gần 50 làng quan họ. Cái hay, cái bản sắc của lễ hội là hệ thống diễn, xướng, hành động hội do người dân thực thi chứ không phải chỉ có một đoàn văn công chuyên nghiệp, nghiệp dư làm thay, trình diễn cho tất cả.
Dân cư bản quán lễ hội là người tham gia sáng tạo lễ hội là điều vô cùng quan trọng, chẳng hạn hội Gióng chỉ có dân làng Gióng có đủ tư cách - phẩm chất - nghệ thuật biểu diễn các tiết mục diễn xuất quy định, không có một đội văn công chuyên nghiệp nào có thể làm thay cho trai trẻ nam nữ làng Gióng trong lễ hội mùng 9 tháng Tư âm lịch hàng năm.
Cộng đồng cư dân bản quán không chỉ là chủ thể sáng tạo lễ hội mà chính họ là người thụ hưởng lễ hội của làng mình. Gần đây có xu hướng tách cộng đồng dân cư ra khỏi thụ hưởng lễ hội như biến họ thành kẻ thừa trong lễ hội hay biến họ thành các chủ hàng quà lễ cho du khách. Hội chùa Hương hàng năm là một ví dụ. Hàng nghìn dân cư sở tại đua nhau mở dịch vụ phục vụ du khách là việc tất yếu và là nghĩa vụ của dân sở tại, nếu như sự phục vụ đó là vì du khách, công bằng, minh bạch, tiện lợi cho tất cả thì chẳng có gì để luận bàn; nhưng đằng sau nhãn hiệu dịch vụ hội chùa Hương là vô vàn cú chém ngọt du khách, từ ăn, ở, đi lại, đồ lễ… mà kẻ hành hương phải nín chịu cho qua đi một kỳ trẩy hội. Đáng lẽ dân cư sở tại Hương tích làm chủ Hội chùa Hương, họ phải là những chủ nhà hiếu khách, lịch lãm, chân tình và để lại cho triệu triệu du khách ấn tượng đẹp về một kỳ hội!
Năm Canh Dần đã đến, lễ hội đầu năm đã bắt đầu nở rộ khắp mọi vùng quê đất Việt, đâu đâu cũng xốn xang, đâu đâu cũng rộn ràng với lễ hội, mọi người như sẵn sàng hành trang trẩy hội, mong được nhanh chóng đến với hội như đón xuân về. Năm Canh Dần, mùa hội từ lúc giao thừa đưa tiễn năm Kỷ Sửu, trâu – nghé qua sông, Hùm thiêng đã đến tượng trưng cho sức vươn lên của Đất nước nhân đầu mùa lễ hội mới. Mùa lễ hội Canh Dần còn đó 365 ngày đêm cùng với các lễ hội truyền thống, hiện đại của cả nước. Hà Nội còn đây lễ hội 1000 năm Thăng Long. Hẳn là lễ hội hoành tráng nhất trong các lễ hội ngàn năm trước của cư dân Việt trường tồn./.
Chào mùa lễ hội Canh Dần - hội lễ 1000 năm Thăng Long.
Bùi Thiết