Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp nơi truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.
(Ca dao đất Tổ)
Từ đây – theo địa đồ vừa thấy ở huyện Bình Xuyên – đến sườn Nghĩa Cương không còn mấy phút ô tô nữa. Chúng tôi dừng chân ở thành phố công nghiệp của đất Tổ đầy chiến công hiển hách bắn rơi máy bay Mỹ chiếc thứ 400, và chiếc thứ 4.000 của miền Bắc những tháng ngày qua. Việt Trì sau tàn phá lần thứ hai vì bom đạn Mỹ, nay bắt đầu hừng lên nhịp sống khẩn trương. Những đoàn xe tải hối hả vượt cầu phao công binh – sáng tạo bằng ống vỏ tên lửa ghép lại – ngược xuôi khắp các lối đi ngang dọc ngoại thành. Xe ủi đất san nền lấp hố bom. Những mái tường của nhà máy được cẩu gọn lại. Đó là khu nhà dân lác đác mái cọ mới, mái ngói lợp lại với mầu vàng đất và đỏ hoa lựu đẹp vui. Cột đèn gãy được thay, khu nhà máy liên hoàn: Đường, giấy, điện, mì chính, hóa chất bắt đầu vẽ khói lên bầu trời, mặt sông vừa nguội lửa đạn sau 60 ngày ngưng bắn.
Chúng tôi lần theo dấu vết khảo cổ trên những triền đồi trung du – thềm phù sa xưa kia, khu vực cũ của “văn hóa sông Hồng”1 – lãnh thổ của bộ lạc Văn Lang thuở nọ. Đồng chí phó ty văn hóa thông tin Vĩnh Phú đưa chúng tôi về vùng núi Sơn Vi – Lâm Thao. Nên văn hóa Sơn Vi thuộc cuối thời kỳ đồ đá cũ, nơi đầu tiên tìm thấy di tích tiêu biểu cho thời đại này. Các hợp tác xã ở Sơn Vi đã 7 tấn từ lâu, có đơn vị đại đội thanh niên mang tên Hùng Vương đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, vẫn giữ vững truyền thống trai đất Tổ. Đất Lâm Thao, đất quật ngã chiếc máy bay Mỹ thứ 100 của tỉnh. Và theo đồng chí bí thư huyện ủy, cho biết: Vùng xã Cao Mại, Kinh Kệ còn là quê hương của hát xoan. Đó là một loại hình dân ca hát vào mùa xuân – riêng biệt của Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ và Vĩnh Phúc) theo truyền thuyết, có từ thuở vua Hùng dựng nước. Những di chỉ khai quật được ở Phùng Nguyên
(Lâm Thao): Mũi nhọn đá và rìu mài nhỏ, đội xe chỉ là lò gốm, bàn mài, vòng tay, hạt chuỗi, tượng đá, đồ đựng bằng đất nung... cho ta biết rõ giai đoạn Phùng Nguyên là thời kỳ tiền Hùng Vương của lịch sử dân tộc. Buổi sớm Sơn Vi, buổi chiều chúng tôi về Đồng Đậu (Yên Lạc), anh Nguyễn Đình Long báo Vĩnh Phú cho xem mộ viên quan Mỹ “sè sè nắm đất bên đường” khi tàu bay bị bắn rơi vào một ngày xuân năm 1967 ở gò ruộng rìa làng. Hôm đó tên phi công mở dù ra không kịp nên phải thiệt thân.
Trong nhà bảo tàng xã Nguyệt Đức, những di chỉ đào ở Đồng Đậu được cụ Phạm Quang Cận, người trông giữ bảo tàng, giới thiệu với khách những mảnh gốm và các hoa văn trang trí khác, kể cả các khuôn đúc rìu, mũi dao, hoa tai bằng đá, khuôn đúc tên đồng – đã chuyển về Hà Nội – đào được dưới tầng sâu 4 mét. Và theo các nhà khảo cổ đã phân tích tro than lấy trong tầng văn hóa ở di chỉ Đồng Đậu – bằng phương pháp cácbon phóng xạ (C14) – cho rõ: giai đoạn này cách chúng ta phải trên dưới 3.300 năm. Mỗi bước chúng tôi đi trên miền đất Phong Châu cũ, chiếc nôi của dân tộc – đều gợi lại một thời kỳ lịch sử huy hoàng… Theo các sử sách cũ, Cựu Đường thư chép rằng: năm Vũ Đức thứ tư (621), nhà Đường đặt đất Phong Châu thành 6 huyện. Và có lẽ Phong Châu thời kỳ Hùng Vương qua các di chỉ và vật khảo cổ ấy, thì Phong Châu là vùng đất nằm giữa Ba Vì và Tam Đảo với trung tâm miền hội lưu của các dòng sông Hồng, Đà, Lô, Đáy…
Đây đền Hùng. Chúng tôi lần từng bước lên đền Thượng – điện chính tầng mây – rốn của kinh thành Phong Châu thuở trước. Đền Thượng đặt trên đỉnh Nghĩa Cương, cao hơn mặt biển 200 mét. Ngôi mộ Tổ bên trái chân đền. Bên phải là phiến đá làm bàn đánh cờ của các vua Hùng và mốc đá của Thục Phán thề: “Nguyện có trời cao lồng lộng chứng giám xét soi, xin đời đời giữ gìn non sông bền vững và trông nom miếu võ họ Hùng”1. Thuở xa xưa buổi rạng đông của dân tộc, Hùng Vương lên ngôi đặt quốc hiệu là nước Văn Lang.
Trời chiều, gió về hoa trầu rụng trắng xóa lối đi, chúng tôi: một đoàn anh chị em làm báo, làm văn, làm thơ, nghệ sĩ nhiếp ảnh và họa sĩ… xuống thăm đền Trung. Anh Nguyễn Đình Ái, phòng văn hóa thông tin huyện kể cho Lệ Quân – một nữ sinh, con một gia đình liệt sĩ đi học ở Ki-ép (Liên Xô) về “vinh quy bái tổ” – sự tích của ngôi chùa, nơi xưa kia vua Hùng thường ra lễ bái. Dưới cùng là đền Giếng, có giếng Ngọc xây đá trước điện thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung Mỵ Nương mắt phượng, má son ngồi trên long ngai. Đó là hai con gái của vua Hùng Duệ Vương, chi thứ 18, lấy Sơn Tinh và chử Đồng Tử, cùng với Phù Đổng Thiên Vương thời vua Hùng thứ 6 và bà chúa Liễu Hạnh thành bộ “Tứ bất tử”, tức là bốn vị thần được nhân dân truyền tụng, đứng đầu muôn thuở. Phù Đổng và Sơn Tinh là “Đệ nhất phúc thần” cứu dân khỏi xâm lăng và lụt lội.
Ngồi nghỉ chân bên bệ đá ngắm lại ngọn Hy Cương tròn trĩnh xanh tươi lạ thường, mạch núi từ Tam Đảo, bò xuống, kéo về địa phận huyện Lập Thạch, xuyên qua sông Lô, phía tây núi non la liệt, phía đông có sông Đà lượn lờ quanh quanh có các ngọn nước tụ về Ngã Ba Hạc. Bên trái có đỉnh Ba Vì nơi Tản Viên ở, xa xa là núi Sóc Sơn, nơi còn dấu chân Phù Đổng, người có công giúp vua Hùng đánh thắng giặc Ân. Đó là người anh hùng đầu tiên trong truyền thuyết nước ta mà trong sách cổ Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, trong Thiên Nam ngữ lục cũng như trong Đại Nam quốc sử diễn ca hết lời ngợi ca.
Kính cẩn nghiêng mình trước đền Giếng, chỗ cây đại già mọc trước bẩy bậc cấp nơi Bác Hồ mùa thu năm 1954 ngồi nói chuyện với các chiến sĩ trong đại đoàn quân tiên phong trở về giải phóng thủ đô. Bác ân cần dặn các chiến sĩ: “Các vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Từ xưa đến nay, bao nhiêu câu đối, bao nhiêu vần thơ của người trước ca ngợi Hùng Vương. Chúng tôi có đọc được các thần tích ở xã Lâu Thượng (Việt Trì), thần tích đình Mạo Phổ huyện Thanh Ba, thần tích đình Mẫu Thọ huyện Tam Nông, đình Lạng Hồ Vu Tử (Lâm Thao) đình Giếng Giá, Sơn vi đình Hạ Khế (Cẩm Khê), đình các làng Xuân Dương, Hạ Bì, Bì Chấu (Thanh Thủy). Bằng con đường “dân gian” ấy, tổ tiên mình đã anh dũng dẹp thù trong, chống giặc ngoài, và đem lại cho ta niềm kiêu hãnh lớn hôm nay.
Đoàn Minh Tuấn