Cụ thể, Thỏa thuận Copenhagen kêu gọi các nước công nghiệp hóa và các nước đang phát triển từ nay đến tháng 4/2010 khẳng định những cam kết về giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính; dự trù viện trợ 10 tỷ USD/năm trong vòng ba năm tới để giúp các nước nghèo thích ứng với những tác động của BĐKH, số tiền này sẽ tăng lên thành 100 tỷ USD từ đây đến năm 2020; thành lập “Quỹ Xanh Khí hậu” để hỗ trợ dự án của các nước đang phát triển nhằm giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính... Như vậy, COP 15 kết thúc mà không đạt được thỏa thuận mới để thay thế Nghị định thư Kyoto về vấn đề BĐKH đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon cho rằng, “Thỏa thuận Copenhagen mới là một giai đoạn chủ yếu đầu tiên trong công cuộc chống BĐKH”; Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy nhận định, đây là một thỏa thuận “tích cực” nhưng “không hoàn hảo”. Còn theo nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế, tuy không đạt được kết quả như mong muốn nhưng COP 15 sẽ ghi vào lịch sử như một cái mốc quan trọng trên con đường xây dựng nền kinh tế sạch về sinh thái trên phạm vi toàn cầu.
Tác động của BĐKH đến kinh tế - xã hội và hoạt động du lịch nước ta
Theo đánh giá của LHQ, BĐKH là vấn đề toàn cầu song đặc biệt cấp bách đối với Việt Nam – một trong năm nước trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do BĐKH. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, khu vực Đông Nam Á, đứng đầu là Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH, đặc biệt là hiện tượng mực nước biển dâng. Theo đó 5,2% diện tích tự nhiên với 10,8% dân số Việt Nam sẽ bị tác động với mực nước biển dâng 1m, đây là tỷ lệ dân số lớn nhất bị tác động trong 84 nước được nghiên cứu; con số tương ứng trong trường hợp mực nước biển dâng 5m sẽ là 16% và 35%. Với hai kịch bản này, theo TS. Nguyễn Hữu Ninh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giáo dục và phát triển Môi trường (CERED), Việt Nam có hai đồng bằng thấp, đặc biệt là ĐBSCL là vựa lúa không chỉ của Việt Nam mà của cả thế giới nếu nước biển dâng cao ở bất cứ mức độ nào đều sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng chục triệu dân. Việt Nam nằm trong trung tâm bão Tây - Tây Bắc Thái Bình Dương là trung tâm bão lớn nhất thế giới. Hàng năm số lượng bão đổ bộ vào Việt Nam với tần suất và cường độ cao hơn so với những năm trước, thiên tai xảy ra dồn dập, thiệt hại rất lớn và khắc phục không dễ dàng. TS. Nguyễn Thế Tưởng – Hội Khoa học kỹ thuật Biển Việt Nam cho biết, qua các kết quả điều tra cho thấy, BĐKH ở Việt Nam biểu hiện chủ yếu ở các yếu tố: nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,30C/năm, mực nước biển dâng cao từ 0,435 – 0,635cm/năm, lượng mưa giảm trong các tháng 7, 8 và tăng trong các tháng 9, 10,11; đến năm 2010 nước biển dâng cao 9cm, năm 2050 là 33cm và năm 2070 là 45cm. Trên thực tế, BĐKH đã và đang gây ra những tác động tiêu cực đến mọi lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2006, có 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, đặc biệt là bão Chanchu (cơn bão số 1) và bão Durian (cơn bão số 9); tiếp đến trận lụt lịch sử tại Hà Nội vào năm 2007 và gần đây nhất cuối tháng 9/2009, cơn bão Ketsana (cơn bão số 9) đã tàn phá nặng nề các tỉnh ven biển miền Trung, đặc biệt là Quảng Ngãi và Kon Tum, gây ra những tổn thất to lớn về người và cơ sở hạ tầng ở khu vực này. Theo đà tăng nhiệt độ trên toàn thế giới, từ năm 1920 đến nay nhiệt độ tại Việt Nam cũng tăng lên từ 0,20C đến 10C nhưng tăng nhanh chủ yếu là từ năm 1980 đến nay. Trong 40 năm qua nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đã tăng thêm 0,60C; do ảnh hưởng của El Nino, năm 1997 ở TP. Hồ Chí Minh nhiệt độ đạt kỷ lục cao nhất đến 40,60C. Hai tháng đầu năm 2008, Hà Nội và khu vực phía Bắc Việt Nam đã có đợt rét kỷ lục về độ dài và độ lạnh, chưa từng có trong khoảng 100 năm gần đây khiến nhiều vật nuôi cây trồng bị chết, người mắc bệnh và tử vong do giá rét gia tăng.
Du lịch là ngành kinh tế nhạy cảm với các điều kiện môi trường tự nhiên, vì vậy BĐKH cùng với sự xuất hiện ngày càng tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt và mực nước biển dâng sẽ làm cho giá trị du lịch các hệ sinh thái san hô, rừng ngập mặn, rừng nhiệt đới trên các đảo thay đổi và trong nhiều trường hợp sẽ bị mất đi khi mực nước biển dâng cao nhấn chìm. Tác động này cũng sẽ tương tự đối với các dạng tài nguyên du lịch khác như các bãi biển, các cảnh quan vũng vịnh, các di tích lịch sử văn hóa… Bên cạnh đó, hoạt động đưa đón khách du lịch và hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí ngoài trời phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện thời tiết. Nếu thời tiết xấu (mưa gió, lũ lụt…), các hoạt động du lịch sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, thậm chí trong nhiều trường hợp các tour du lịch phải hủy bỏ bởi điều kiện thời tiết không cho phép. Điều này thể hiện rõ nhất trong thời gian qua, khi nhiều chương trình du lịch đến khu vực miền Trung (Huế, Hội An...), vùng núi phía Bắc (Sapa, Hà Giang...) đã phải hủy hoặc chấm dứt giữa chừng do ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt. Phó Giám đốc Sở VH,TT&DL Lào Cai Nguyễn Đình Dũng cho biết, năm 2008, ngay khi có mưa lớn kéo dài, các tuyến đường nối liền Lào Cai với các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái và tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội đã bị ngưng trệ hoàn toàn, làm ách tắc hàng trăm phương tiện cơ giới và khoảng 700 hành khách (phần lớn là du khách nước ngoài) tại huyện Bảo Yên (Lào Cai). Công ty vận chuyển bay miền Bắc đã phải tổ chức 16 chuyến trực thăng để vận chuyển 230 hành khách từ Lào Cai về Hà Nội.
Ảnh hưởng của BĐKH là rất nặng nề, tuy nhiên có một điều đáng mừng là nhận thức của các cơ quan quản lý, các nhà khoa học và người dân Việt Nam về BĐKH đã có cải thiện đáng kể. Việt Nam đã có những hành động rất kịp thời để đối phó với BĐKH mà cụ thể là tháng 8/2008, Chính phủ đã thông qua 3 kịch bản và kèm theo đó là các giải pháp ứng phó với BĐKH. Đến tháng 12/2008, Chính phủ đã thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia để thích ứng với BĐKH và nước biển dâng với kinh phí giai đoạn 2009 – 1015 lên tới 1.965 tỷ đồng. Chương trình đã xác định "việc ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, mọi người dân; cần được tiến hành với sự đồng thuận và quyết tâm cao; cần có giải pháp ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềm tàng lâu dài; phải được thể hiện trong các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các địa phương, được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật...".
Biện pháp ứng phó với tác động của BĐKH đến hoạt động du lịch
Do đặc điểm phân bố tài nguyên du lịch và hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tập trung chủ yếu ở vùng ven biển và trên các đảo, nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh nhất tác động của BĐKH nên du lịch sẽ là một trong những ngành kinh tế chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất của BĐKH. Điều này đòi hỏi ngành Du lịch cần đặc biệt quan tâm và sớm triển khai xây dựng kế hoạch ứng phó với BĐKH. Ngành Du lịch cần xác định cụ thể vùng, khu vực, địa điểm bị tác động của BĐKH làm cơ sở triển khai thực hiện đầu tư phát triển các khu du lịch, kết cấu hạ tầng du lịch và tổ chức kinh doanh du lịch phù hợp với điều kiện mới. Theo PGS.TS Phạm Trung Lương – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, tác động của BĐKH đến hoạt động du lịch là không thể tránh khỏi. Vì vậy, ngành Du lịch cần sớm nghiên cứu xây dựng kế hoạch ứng phó với những tác động của BĐKH. Công tác ứng phó có thể bao gồm các hoạt động “giảm nhẹ” và “thích ứng”. Theo đó, các cơ quan quản lý du lịch ở trung ương và địa phương cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch dịch vụ cần có biện pháp giảm và tiến tới thay thế các thiết bị làm lạnh có sử dụng khí CFC, hạn chế khí thải CO2 từ các phương tiện vận chuyển du lịch; khuyến khích phát triển du lịch sinh thái, du lịch có trách nhiệm thân thiện với môi trường; áp dụng mô hình 3R (Giảm thiểu chất thải - Tái sử dụng - Tái chế chất thải) trong hoạt động phát triển du lịch, giảm mức độ sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên; khuyến khích tiết kiệm năng lượng, nước và sử dụng năng lượng thay thế, hạn chế lượng thải ra môi trường. Mặt khác, ngành Du lịch cần tiếp tục nâng cao nhận thức về BĐKH và những tác động đến du lịch để từ đó đề ra các chính sách và các hoạt động phù hợp; xây dựng hệ thống chính sách bảo vệ tài nguyên, các khu điểm du lịch; phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu về tác động của BĐKH nhằm xây dựng những biện pháp hiệu quả để hạn chế và thích ứng với tác động của BĐKH trong lĩnh vực du lịch...
Hạn chế sự tác động tiêu cực của BĐKH là công việc có quy mô vượt khỏi khuôn khổ một ngành, một địa phương hay một quốc gia. Nhưng, với nhận thức, những biện pháp chủ động và tích cực ứng phó của các cơ quan quản lý và cộng đồng dân cư, BĐKH sẽ không gây ra nhiều tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội nước ta, trong đó có du lịch./.
|
Nếu mực nước biển dâng lên 1m thì sẽ tác động làm suy giảm giá trị của 78 (tức khoảng 27%) môi trường sống chủ yếu ở Việt Nam, bao gồm 46 (chiếm 33%) các khu bảo tồn; 9 (chiếm 23%) các khu đa dạng sinh học điển hình và 23 (chiếm 21%) các khu vực nơi có sự tồn tại đan xen giữa các khu bảo tồn và đa dạng sinh học điển hình. Trong trường hợp mực nước biển dâng lên 5m sẽ tác động làm suy giảm giá trị của 87 (chiếm 30%) các môi trường sống chủ yếu bao gồm 52 (chiếm 37%) các khu bảo tồn, 10 (chiếm 25%) các khu đa dạng sinh học điển hình, và 25 (chiếm 23%) các khu vực xen kẽ giữa các khu bảo tồn và đa dạng sinh học điển hình.
Kết quả nghiên cứu về tác động của BĐKH đến các hệ sinh thái ở Việt Nam do Tổ chức Chim quốc tế (Birdlife International) thực hiện.
|
Lê Hải