Tuổi trẻ và lý tưởng cách mạng.
…Ông Tư Cang nhớ lại: Do ông là người biết tiếng Pháp, nên các cấp chỉ huy đưa ông vào ngành tình báo, quân báo tỉnh Bà Rịa, rồi làm tổ trưởng quân báo Cần Đước - Cần Giuộc - Nhà Bè, phó chỉ huy quân báo tỉnh, năm đó, ông vừa tròn 26 tuổi.
Tập kết ra miền Bắc, ông được biên chế vào sư đoàn 338, do ông Tô Ký là đại tá làm Chính ủy sư đoàn. Năm 1958, ông là chính trị viên đại đội 17 sư đoàn được phong quân hàm thượng uý.
Chính quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm không chấp hành Hiệp định Giơnevơ nên đã không có Tổng tuyển cử và một thời kỳ máu lửa lại tiếp diễn ở miền Nam. Bồi hồi xúc động ông nói: Tôi nôn nao muốn trở về miền Nam chiến đấu thế là: “Tui ráng tập luyện kỹ thuật của tình báo, tập lái môtô, tập chụp ảnh, tráng rửa ảnh rồi tập bắn súng ngắn hai tay...”.

Năm 1961, toàn Đại đoàn tập trung về Nam, ông có tên trong danh sách đơn vị đi đầu chuyến về Nam ấy. Người anh hùng nhớ lại, rạng sáng đơn vị hành quân vào giới tuyến 17, sông Bến Hải để vào Nam thì ông được giữ lại học nghiệp vụ tình báo 6 tháng ở Hà Nội. Đến tháng 12 năm 1961, ông được lệnh hành quân về Nam, đi 100 ngày trên các triền núi Trường Sơn bên nước bạn Lào để về đến chiến khu D, khi ấy con đường còn nhỏ nên giặc chưa biết, người đi sau cầm chà để kéo lại làm ngụy trang che mắt địch và bảo đảm bí mật...
Đấu trí với kẻ thù
Tháng 4/1962 tại chiến khu D, ông tiếp nhận mạng lưới tình báo Phạm Xuân Ẩn, thay ông Phạm Xuân Mạnh bị bệnh ra Bắc để điều trị. Địa điểm của Cụm đóng tại rừng chồi Bến Đình, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi - Sài Gòn - Gia Định, với nhiệm vụ võ trang, liên lạc chỉ đạo bằng thư từ, lấy tin tức ở trong nội thành đưa về Trung ương.
Năm 1966, khi đế quốc Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, ông Tư Cang có nhiệm vụ sâu sát trong khu vực nội thành đưa những chỉ đạo từ cấp trên đến với lưới tình báo của ông Phạm Xuân Ẩn được thông suốt, ông nhớ lại và nói: Lúc đó tôi đã là chỉ huy bộ phận võ trang gồm 20 người ở khu căn cứ tại Bến Đình - xã Nhuận Đức, chỉ huy chống càn, dạy bộ đội về chiến thuật, kỹ thuật quân sự. Nhiệm vụ thứ hai là chỉ huy các cô giao liên ở trong ấp chiến lược đi về Sài Gòn, nhận thông tin của cơ sở mình trong nội thành gửi ra. Ngày ấy muốn về Sài Gòn phải có thẻ căn cước. Buổi tối anh em đưa thư từ, tài liệu đột nhập vào trong ấp chiến lược, rồi từ ấp chiến lược, bằng con đường hợp pháp mình đi vào Sài Gòn, và trong nội thành đô thị Sài Gòn có mạng lưới điệp viên là ông Phạm Xuân Ẩn và bà Tám Thảo.
Đã có lần, Đại tá tình báo Tư Cang được giao nhiệm vụ quan trọng là chuyển lá thư để cho một lãnh đạo cao cấp của hàng ngũ bên kia là người nước ngoài. Nhiệm vụ ấy, ông Tư Cang và ông Phạm Xuân Ẩn biết là khó khăn, nhưng cấp trên giao thì mình phải thi hành, dầu có phải hy sinh đến tính mạng. Trong thời gian một tháng, các ông đã tiếp cận được với người mà cấp trên chỉ đạo đưa thư từ tới, ông Tư Cang lái xe đưa ông Ẩn đi vào trong một tiệc đứng, ông Ẩn giao thư rồi hai ông trở về an toàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Vì sau khi còn mấy tháng đi về cõi vĩnh hằng nhà tình báo vĩ đại Phạm Xuân Ẩn còn nói với người chỉ huy của mình rằng: “Tôi làm tình báo mấy mươi năm chưa bao giờ thấy run như khi tôi cầm cái thư, đưa cho tay người nước ngoài năm đó”…, thấy nhiệm vụ khó khăn ác liệt đến nhường nào...
Thời kỳ đó cuối năm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Việt Nam Cộng Hòa thường ban hành văn bản quân sự cho năm sau gọi tắt là AB, kế hoạch đó phía địch vừa ban hành thì trong vòng 5 - 7 ngày Trung ương Cục mình đã có. Đó là kế hoạch chiến lược và huấn luyện chiến lược quân sự cho lính cộng hòa. Từ những chiến công của Cụm tình báo H63, Nhà nước đã phong tặng là đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào năm 1971...
Nhân chuyện ngày Tết ông nhớ lại: 30 tết năm đó hai bên ngừng bắn 3 ngày, cho dân ăn tết. Nhưng bọn địch lại nói với dân, không ngưng bắn, vì dưới đất có một nhóm Việt cộng có máy và điện đài, nên chúng quyết tâm bắt cho được toán Việt cộng là nhóm võ trang của ông Tư Cang. Trên điện xuống cho 7 - 8 đồng chí bộ đội rút về căn cứ Bời Lời, riêng ông phải vô trong đô thành Sài Gòn điều nghiên và báo cáo ra Trung ương cho cụ thể. Đêm 30 tết, anh em cắt vòng vây của địch về căn cứ, còn mình ông đi vào xóm, ấp rồi cải trang lên taxi đi vào nội thành. “Ngày 1 tết, tôi đến nhà bác Bảy, có tên thường gọi là dượng Hai, một cơ sở cách mạng. Ngoài ấp, tụi Mỹ vẫn bố ráp tìm bắt cho được đội võ trang của ông. Ông bàn với dượng Hai, khi bọn Mỹ vào hỏi dượng cứ nói: Đây là thằng cháu dưới Sài Gòn lên chơi, con sẽ nói tiếng Mỹ với bọn nó, dượng đừng sợ...! Và đúng là bọn Mỹ vào nhà, ông bình tĩnh rót rượu cho chúng uống, nói chuyện với chúng, một lúc sau khi chúng đi khỏi, ông thay quần áo, lên xe đàng hoàng về Sài Gòn nghiên cứu cách phòng bị của kẻ thù trong những ngày tết. Chuẩn bị cho chiến dịch sắp tới.
Tết Mậu Thân 1968, chỉ đạo của cấp trên, là chiếm lấy Sài Gòn, tiêu diệt sinh lực cao cấp, đánh sập ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Cả miền Nam nổi dậy, lực lượng tình báo cũng được đánh địch trên mọi tình huống. Năm đó cấp trên có trang bị cho 2 khẩu súng K54 và 30 viên đạn. Ông kể tối mùng 1 tết Mậu Thân năm 1968, các chiến sĩ biệt động thành của ta, tấn công vào Dinh Độc Lập. Đường Nguyễn Du và đường Thủ Khoa Huân ở chợ Bến Thành đi lên, góc ngã tư này có công trình xây dang dở, anh em bên mình phòng ngự trong toà nhà xây dở đó, “trong trận đó, tui đang ở trong nhà của một cơ sở cách mạng, nhưng thấy các đồng chí của mình bị vây hãm và súng cũng gần hết đạn. Nên tui đã chi viện cùng đồng đội hai viên đạn K54, bắn vỡ đầu hai tên chỉ huy của kẻ thù, nhằm nhắn nhủ các đồng chí của mình. Bên cạnh các đồng chí, có chúng tôi cũng đang sát cánh cùng các đồng chí”. Bắn xong hai viên đạn thì ông dấu súng. Tụi địch hoảng sợ, lùng sục các nhà dân, nằm tìm cho được người đã bắn chết hai tên chỉ huy của chúng. Bọn địch chạy qua Thủ Khoa Huân, rồi vào nhà cô Tám Thảo, nơi ông đang ẩn náu. Bọn giặc đang lục soát, khi ấy ở trên lầu ông đã chuẩn bị cho mình một viện đạn, phòng khi kẻ thù bắt sẽ tự mình phát hoả khỏi phải lọt vào tay kẻ thù. Bằng tài trí thông minh, cô Tám Thảo, một chiến sĩ tình báo trong cụm tình báo H63 đã che mắt được địch, chúng lục soát một hồi rồi rút. “Trận đó thật là hết biết, cô Tám Thảo lúc đó thật anh hùng”, ông Tư Cang không khỏi thán phục nói.
Mùa xuân thứ 35 sau ngày đất nước thống nhất, Đại tá Tư Cang nay đã sang tuổi 82 nhưng còn quắc thước và minh mẫn lắm...! Ngồi nghe ông kể về những năm tháng cùng đồng đội và quân dân cả nước không quản hy sinh dốc lòng, dốc sức cùng quân dân cả nước chiến đấu với một tâm niệm làm sao để đất nước sớm được thanh bình... Chúng tôi thế hệ con cháu của các ông thật sự xúc động và cảm thấy rõ hơn trách nhiệm của mình đối với tổ quốc Việt Nam mến yêu. Xuân đã về, nắng vàng rực trải dài khắp thành phố, những gương mặt rạng ngời hân hoan chào đón mùa xuân.
Hoàng Hùng