Đã xa rồi cái tuổi ngồi chờ mong Tết đến tháng Chạp. Năm cùng tháng tận, trông thấy mọi người bươn bả từng buổi chợ cuối năm, lòng tự dưng nhớ mẹ vô cùng. Cũng vào cuối năm, trời mưa lâm râm và rét cắt da cắt thịt, mẹ khoác mảnh áo dài phong phanh không đủ ấm, mẹ lội đồng làng Lạc Trường cho kịp chuyến xe đi họp chợ. Đôi quang gánh mẹ xếp đầy lá chuối vườn nhà, cắt rọc lấy từng chiều hôm trước để bán cho người gói bánh tét, bánh chưng ăn tết.
Trời mùa đông, cánh đồng xóm dưới mênh mông mờ dần chỉ còn tiếng ếch nhái thê lương, mẹ vẫn chưa về! Nhà nhà lên đèn, nỗi lo sợ tràn ngập hồn tôi, lũy tre rũ bóng run rẩy như bóng người đàn bà mất trí lang thang hôm nào, làm tôi nghẹn ngào khóc không thành tiếng. Bỗng tiếng liếp cửa kẽo kẹt, mẹ lẻn vào, chân không, trong chiếc thúng đựng gạo nếp, hương hoa, nhang đèn và… chỏng chơ đôi guốc mộc mòn vẹt gót. Khi nước mắt tôi rơi lã chã trên trang vở, mẹ cười thật hiền và ôm tôi vào lòng lẫn trong tấm áo mỏng ướt sương đêm là mồ hôi mặn chát.
Những ngày cuối năm, mẹ thường đi về khuya khoắt như thế, Sớm mai, lúc tôi cảm thấy chiếu chăn lạnh lẽo, quờ tay sang mẹ, mẹ đã đi rồi! Phải đến cái Tết lên mười, lúc tôi nhận biết mình là đứa con nhà nghèo nhất, nhì trong làng, tôi mới hiểu chuyện. Ở quê tôi, có hai việc không thể để sang năm mới: Việc tang và công nợ. Tết nhất cận kề, nợ nần không chỉ là vật chất mà còn là nỗi nhục nhã, ê chề, nếu không trả được trong năm cũ. Đêm ba mươi, mẹ lặng lẽ gắp từng hòn than đỏ rực từ bếp lửa, bỏ nhẹ nhẹ vào chiếc bàn ủi đồng hình con gà trống. Mẹ là phẳng phiu cho tôi tấm áo cũ năm trước, xong rồi mở rương lấy ra chiếc áo dài tím Huế mỗi năm chỉ mặc một đôi lần. Chiếc áo dài màu tím của mẹ! Cả tuổi thơ tôi đã quen với màu tím ấy, một màu đẹp và buồn suốt đời không quên.
Sáng mồng một năm nào cũng vậy, mẹ đưa tôi đến một cái chợ rất lạ, mỗi năm chỉ họp trong ngày mùng Một Tết. Đó là hội chợ Gò ở thị trấn Tuy Phước, cách làng tôi một quãng đường ngắn, tôi hỏi mẹ: “Sao không đi chợ Gò đông vui lắm, khách đổ về từ mọi miền đất nước, tương truyền rằng ngày xưa chợ Gò là nơi dừng chân của nghĩa quân Tây Sơn tiến quân ra Bắc?”. Mẹ tôi không nói năng gì, chỉ giục tôi gắng đi mau. Gọi là chợ Tết, thật ra mọi người mua bán dưới ở một khoảng đất trống quanh năm bỏ hoang, chợ nhóm tràn ra đường cái quan. Là nơi treo lủng lẳng nhiều thứ đồ chơi dân dã. Bọn trẻ trạc tuổi tôi nhìn ngắm mê say, đứa dạn dĩ còn với tay chọn lựa, ngã giá… Bày trên thúng mủng là vô số con cá, chim chóc, hoa tai, có cả ông Trạng cưỡi ngựa, Bà Trưng cưỡi voi…, tất cả nặn bằng bột sắn nhuộm màu sặc sỡ. Món hàng nào khá rẻ, mua về chơi cỗ bàn cúng tế, sau đó chán chê đem nướng ăn ngon lành, miệng đứa nào đứa nấy lọ lem những phẩm màu xanh đỏ… Loại đồ chơi thứ hai cỡ lớn hơn, nặn bằng đất sét tô màu các loài cầm thú. Voi, ngựa, trâu, gà…. Đứa trẻ nào ưu để dành tiền mừng tuổi thì chọn con heo đất mập ú, có chừa lỗ bỏ xu hào rủng rỉnh. Giữa tiếng người xôn xao nói cười rộn rã, ồn ã vang lên liên hồi tiếng gà gáy. Con gà đất là món đồ chơi bán chạy nhất. Đó là chú gà trống đẹp mã, dưới bụng có cái kèn be bé bằng tre hóp, lưỡi kèn là miếng lá rung theo hơi thổi, tạo ra tiếng gà. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ, mỗi buổi sáng mồng hai, mồng ba, lũ trẻ sớm giềng mang gà đất ra thi gáy. Giỏi thổi và biết cách luyến láy ngón tay ở cái lổ nhỏ xíu trên lưng gà, tiếng gáy trầm bổng hấp dẫn. Loại đồ chơi thứ ba được treo trên dây là hàng mã làm bằng tre và giấy ngũ sắc: Cái trống “lung tung ”, chong chóng, con ve ve, con nhảy vọt, người giã gạo và những viên pháo chà, pháo chuột, cùng tiếng trống “ lung tung ” rộn ràng làng trên xóm dưới, nhờ hai hạt đất sét khô đính vào hai sợi chỉ ngắn liên hồi gõ lên mặt trống bằng giấy kính màu. Bọn trẻ xoay trống, bàn tay mỏi nhừ vẫn ưa nghe. Tiếng trống trẻ thơ ấy vui như tết và cũng mong manh như tết, hết tết biết còn đâu. Đồ chơi trẻ con ngày ấy nhiều và cũng thật đơn giản và bình dị quá “chẳng bù lại bây giờ, đồ chơi trẻ con toàn là súng đạn, điện tử, bạo lực tràn bán khắp nơi”.
Chợ Gò ngày nay ngoài hàng đồ chơi trẻ con, là những hàng tôm, cá của ngư dân vùng biển đánh bắt đầu năm, đặc biệt là hàng cau trầu bán cho người mua lộc đầu năm, ba ngày tết lá trầu xanh tươi báo hiệu là năm mới nhiều may mắn. Những người làm bán đồ chơi cũng là dân nghèo, đa số ở làng Mỹ Nghệ trong huyện, vốn nổi tiếng về nghề vẽ tranh dân gian, làm bài tới và nặn con giống. Hằng năm, giữa tháng chạp, nhà tôi lại có khách giống như ông đồ xuất hiện mỗi năm một lần, nhưng ông không bày mực tàu giấy đỏ mà đó là một ông lão tuổi gần bảy mươi, mắt đeo kính trễ xuống mũi, nhưng đôi bàn tay chai sần lại rất tài hoa. Những con giống bột màu, con vật bằng đát sét, trống “ lung tung ”… đều do ông cụ tự làm bán ngày Tết. Người bán đồ chơi ấy lang thang qua từng xóm chợ hằng ngày, tối về thức đến nửa đêm cắm cúi nhào nặn. Bọn trẻ chúng tôi chờ ông về, rồi nhận cái thứ đồ chơi ế ẩm. Người già ấy là ông Bụt, ban phát đồ chơi miễn phí cho đám trẻ nghèo ngày Tết.
Cho đến một năm giá rét căm căm, không thấy ông đến nữa. Mẹ bảo ông đã mất trong ngày đông chí, chúng tôi đứa nào cũng khóc!
Trong tuổi thơ tôi, ngôi chợ Tết và những thứ đồ chơi ấy, để lại muôn vàn nỗi nhớ. Nỗi nhớ lung linh và mơ hồ nhưng rất sâu sắc, những phiên chợ tết rồi cũng đi qua, những cơn gió bấc cuối mùa, cái háo hức nôn nao chờ tết ngày nào của trẻ con đã qua, những cơn gió lạnh sẽ nhường chỗ cho nắng vàng trải khắp mặt sân những mảng nắng vàng sóng sánh màu mật ong như tô điểm thêm cho nụ tầm xuân bé tí vừa nở tối qua trong hồi niệm, và một thời thơ dại và xen lẫn sự nuối tiếc ghi đậm dấu ấn lên cả tình người.
Khoa Thanh