Nguyên, mọi người quanh năm đầu tắt mặt tối, sống vào trồng trọt, nhờ vả thiên nhiên, đẫm mình vào màu xanh hoa trái, nên khi xuân về, bắt đầu một vòng tuần hoàn tái sinh, con người luôn mơ ước, mong mỏi được thiên nhiên ưu ái, cho mình được hưởng nhiều nhiều lên một chút, hơn năm ngoái một chút, và hơn càng nhiều càng tốt.
Mùa xuân điều gì cũng là đầu tiên, đầu xuôi đuôi lọt, đầu tiên mà tốt, mà may mắn thì hẳn quanh năm sẽ tốt, sẽ may mắn… Thế là phong tục hái lộc ra đời.
Không phải đêm giao thừa đi đón xuân rồi bẻ cây, vác một vác khổng lồ như nhiều thanh niên vẫn làm mấy năm nay ở thành phố. Hái lộc là ước đoán, là đem tươi xanh vào nhà, là mơ ước quả hoa, lộc nõn, là mời thiên nhiên đến với mình.
Xưa, phần lớn các gia đình đều có một mảnh vườn nho nhỏ. Từ chiều tối ba mươi tết, người chủ nhà, người có địa vị cao nhất trong nhà ra vườn nhắm sẵn một cành nào đó ở một cây nào đó, cây bưởi, cây nhãn, cây si, cây hải đường, cây hoa đào, hoa mận… Không cần cành to mà cần có lộc nõn mới đơm, lá còn chưa diệp lục mà tươi màu thiên lý, màu lá mạ. Chọn cây nào có lộc lại có nụ có hoa, có quả non thì tuyệt vời. Yêu cầu đó là rất khó, thôi đành, vài ba lá lộc là chính cũng được. Đúng phút giao thừa, chủ nhà ra vườn, chỗ lúc chiều đã chọn, nhưng bây giờ đêm ba mươi tết trời tối như mực, nhớ chỗ nhưng chưa thể nhớ chính xác, vậy thì cứ nhằm khoảng ấy, hái lấy một cành, một nhánh với lời khẩn hứa, thầm thì cùng cây cỏ thiên nhiên.
Cành lộc xem xong, được trang trọng cắm lên bình hoa, bình đựng hương trên bàn thờ. Có nơi đem cắm cả lộc vào đòn tay nơi mái hiên, chỗ cửa, hàng ngày cả nhà vẫn vào ra, để cành lộc phù hộ, để mọi người nhớ về cành lộc đêm xuân đầu tiên…
Phải đến cuối năm, mùa đông tháng giá, cây khô lá vàng, cành lộc héo đi, vàng xuộm, chủ nhà mới với tay, đem cành lộc sống với mình suốt một năm trường, thả nó xuống dưới giếng cho hồn cây mát mẻ. Tuyệt nhiên không bao giờ vứt cành lộc vào nơi uế tạp một cách bừa bãi…
Thời gian nhanh chậm bước đi cho con người phát triển, phong tục nhiều khi thay đổi. Tết, các vãi già lên chùa. Tết, các lão ông ra đình cúng thần. Thế là tục hái lộc có chuyển vần đôi chút, nhân tiện xuất hành, mọi người xin lộc của Phật ở chùa, của Thánh ở đình, mà cây đa, cây đề, cành khế chĩu chịt quả, nhánh hoa khô mộc, cành roi, nhánh tầm xuân… được hái mang về, nó còn quí hơn cành lộc vườn nhà vì đây là lộc Phật, lộc Thánh, lộc Trời. Thế nhưng, bây giờ nam nữ thanh niên rủ nhau lên chùa, đền để bẻ cành vặt hoa cũng gọi là hái lộc, như vậy là phản với tập tục truyền thống.
Lâu nay chúng ta phải lớn tiếng ngăn chặn tục hái lộc, vì sao? Bởi nhiều người không coi đây là một tục lệ mang tính chất “hèm”, tính chất “điềm báo” mà trở thành một thứ đua nhau, ai hái được cành to thì càng được bạn bè ca ngợi, vì thế lắm khi cây non mới trồng đã bị họ bẻ ngang gốc, có cây bị vặt trụi nõn cành, vác đi một vác, kéo lê mặt đất, họ không cho là sai mà là vui, nên cứ cười nghiêng ngả mặc kệ cho ai đứng nhìn mà đau xót cho cây, cho xuân. Đúng là với hành động đó thì phản đối hái lộc là đúng.
Nhưng nếu hiểu ngọn nguồn của phong tục, có sự nghiêm trang, cẩn trọng, thì làm theo cách hái lộc từ ngàn xưa, phong tục này chỉ là một nét văn hóa đẹp của dân tộc, góp phần làm Tết Nguyên Đán thêm giầu ý nghĩa như cúng tổ tiên, xông nhà lấy may, mừng tuổi người cao tuổi và trẻ thơ, cùng chúc nhau, kiêng điều xấu…
Cẩm Giàng