Ngược dòng thời gian
Bản đồ toà thành Hà Nội trong dư địa chí soạn hồi đầu thế kỷ XIX cho biết vị trí cửa 16 cửa ô như sau: ô Yên Hoa nay là ngã ba đê Yên Phụ - đường Thanh Niên, ô Yên Tĩnh nay là ngã ba đê Yên Phụ - Cửa Bắc, ô Thạch Khối nay là đầu dốc Hàng Than, ô Phúc Lâm nay là đầu phố Hàng Đậu, ô Thanh Hà nay là ô Quan Chưởng, ô Trừng Thanh nay ở Chợ Gạo cũ, ô Mỹ Lộc nay là ngã ba đường Trần Quang Khải - Hàng Mắm, ô Đông An nay là ngã ba Trần Quang Khải - Hàng Thùng, ô Tây Luông nay là Nhà hát Lớn thành phố, ô Nhân Hoà nay là ngã ba Trần Quang Khải - Trần Hưng Đạo, ô Thanh Lãng nay là ô Đống Mác, ô Yên Ninh nay là ngã tư phố Huế - Đại Cồ Việt (tức ô Cầu Dền), ô Kim Hoa ở ngã tư quốc lộ 1 - Đại Cồ Việt (tức ô Đồng Lầm), ô Thịnh Quang nay là ngã tư Hàng Bột - Khâm Thiên (tức ô Chợ Dừa), ô Thanh Bảo nay là bến xe buýt Kim Mã, ô Thuỵ Chương nay là khu vực vườn hoa Tây Hồ ở đầu đường Hoàng Hoa Thám.
Đến năm 1866 cửa ô Hà Nội chỉ còn 15 (theo Bản đồ Tỉnh thành Hà Nội vẽ năm 1866 đời Tự Đức). Trong bài hát “Tiến về Hà Nội” cua cố nhạc sĩ Văn Cao có viết: "Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về, như đài hoa đón mừng nở năm cánh vàng..." và với khí thế những ngày giải phóng Thủ đô năm 1954 nhiều người Hà Nội cũng như người dân nước Việt đều nghĩ rằng Thủ đô ta có 5 cửa ô. Trên thực tế, có tới 6 địa danh liên quan đến chữ ô như ô Yên Phụ, ô Quan Chưởng (tức Thanh Hà), ô Đống Mác (tức Lãng Yên), ô Cầu Dền (tức Thịnh Yên), ô Đồng Lầm (tức Kim Liên), ô Chợ Dừa (tức Thịnh Hào). Có một cửa ô nữa đã đi vào ca dao - ô Hàng Đậu, tức Phúc Lâm - nhưng nay không ai nhắc tới nữa. Thực ra đến nay Hà Nội còn duy nhất một cửa ô với đầy đủ hình hài, kiến trúc, đó là ô Quan Chưởng.
…và các cửa ô còn lại
Trở lại với thực tại, người Hà Nội giờ đây đã không còn nhiều người biết đến những cửa ô của kinh thành Thăng Long xưa nữa, tất cả chỉ có thể tìm lại qua những trang sử sách đã úa màu những tư liệu khiêm tốn…
Ô Quan chưởng (đầu phố hàng Chiếu, cửa Đông) đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá năm 1994. Đây vốn là cửa ô xây dựng năm 1749 thời vua Lê Hiển Tông. Quan Chưởng là cái tên nôm na để chỉ một ông Quan Chưởng coi việc ở đây. Tên chính của ô Quan Chưởng là Đông Hà Môn tức cửa Đông Hà Nội. Công trình xây dựng vẫn được giữ gìn như xưa, cửa ô có dáng dấp cũng như cửa thành nhưng nhỏ hơn. Hiện nay cửa ô còn nguyên một cửa chính và hai cửa con hai bên. Trên nóc cửa chính là một vọng lâu gọi là lầu địch vọng, trước vốn là nơi canh gác của lính. Mặt trước lầu có ba chữ “Đông Hà môn” chỉ địa phận trấn giữ.
Trong những năm 1946-1947, ô Quan Chưởng từ danh nghĩa một cổng thành đã trở thành một cứ điểm quan trọng của trung đoàn Thủ đô, góp sức vào cuộc chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đến thời chống Mỹ, cái tên ô Quan Chưởng lại được xướng lên như một bức tường lửa vững chắc để đội tự vệ thủ đô đặt họng súng bắn máy bay bảo vệ cầu Long Biên. Còn lại các cửa ô khác chỉ hiện về trong tâm tưởng những người sống lâu ở Hà Nội và số tư liệu hiếm hoi như: Ô Cầu Giấy, có lẽ cũng gắn với cái tên gọi cây cầu bắc ngang sông Tô và cũng là tên một con đường dài tới 1800 mét, đi từ ngã ba phố Kim Mã - đường La Thành (trước cửa đền Voi Phục) vượt qua cầu, tới ngã ba phố Nguyễn Phong Sắc - phố Xuân Thủy. Khi xưa Ô Cầu Giấy là một cửa ô xẻ qua tòa thành đất bao quanh khu đông dân cư của kinh thành Thăng Long, được nhiều nhà nghiên cứu gọi là vòng thành giữa, mà bức tường phía tây chạy từ núi Sưa (trong vườn Bách Thảo) theo phố Ngọc Hà, vượt phố Sơn Tây, Nguyễn Thái Học, trở thành chính phố Giảng Võ ngày nay. Cửa ô này vốn có tên chữ Hán là Thanh Bảo và ở vào chỗ gần Bến xe Kim Mã bây giờ. Ô Cầu Giấy hiện nay, nằm ở vị trí chiếc Cầu Giấy bắc qua sông Tô, án ngữ các ngả đường từ Láng, Bưởi, Kim Mã, và Ô Cầu Giấy được thay thành ngã tư Cầu Giấy.
Rồi Ô Đống Mác, đây là cửa ô nằm ở cuối phố Lò Đúc, đi về phía đường Lương Yên, ở phía đông nam Hà Nội. Cửa ô này còn có tên là Thanh Lãng, vào nửa cuối thế kỷ thứ 19. Xa hơn nữa, thời chúa Trịnh Sâm, (thế kỷ 18) có tên là ô Ông Mạc.Cửa ô này là nơi có thể đến bằng đường bộ lẫn đường thuỷ vào thành Thăng Long, nên thường có quân lính canh gác khá nghiêm ngặt. Từ cửa ô này, còn có một nơi, quân nhà Trịnh phò vua Lê xưa, đã bắc cầu qua sông, tiến đánh nhà Mạc, được gọi là bến Ông Mạc. Dân gian còn cho tên ô Đống Mác là do từ thời quân Tây Sơn kéo ra Bắc, tiến đánh cửa ô này, giáo mác vứt lại thành đống. Từ đó, nơi đây có tên là ô Đống Mác.
Còn Ô Cầu Dền nằm ở ngã tư phố Huế - Đại Cồ Việt, ngược lại thời gian những năm 1945 – 1954, Ô Cầu Dền như một ranh giới giữa nội thành Hà Nội với huyện Thanh Trì, con sông nhỏ dẫn nước thải từ nội thành ra, hai bên bờ có đất bãi phù sa, rau màu quanh năm xanh tốt. Trong đó có rau dền là nhiều hơn cả. Rau dền là một loại rau có từ lâu đời trên khắp mọi vùng của nước ta. Các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt Nam các thế kỷ 16 – 17 đã biết đến loại rau này và họ đã đưa rau dền vào từ điển với âm đọc và chữ Việt như chúng ta đọc, viết ngày nay. Vì chiếc cầu bắc qua con sông hai bên bờ có nhiều rau dền nên gọi là Cầu Dền, và có lẽ tên gọi Ô Cầu Dền cũng xuất phát từ nguồn gốc này. Và ở vương triều Nguyễn, Ô Cầu Dền là cửa ô chính quan trọng nhất trên đường thiên lý từ Hà Nội đi về phía Nam (vào kinh đô Huế) và ngược lại.
Còn Ô Chợ Dừa (tức Ô Thịnh Quang xưa) bắt đầu từ khu xã Đàn, xã Tắc - Phố Nguyễn Lương Bằng (Phố Nam Đồng cũ), Đê La Thành, Phố Tôn Đức Thắng (phố Hàng Bột cũ), Phố Khâm Thiên, kết thúc là Đê La Thành, nay chỉ còn dấu tích. Nhưng nhiều người giờ đây đến với Hà Nội vẫn còn hỏi thăm tên đường đến bằng ba chữ Ô Chợ Dừa.
Các cửa ô Hà Nội nay chỉ còn trong sử sách và hoài niệm của người dân Hà Nội. May mắn là Hà Nội ngàn năm của chúng ta vẫn còn một cửa ô “Ô Quan Chưởng” đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1994 và thay vào các cửa ô kinh thành xa xưa là một đô thị ồn ào, náo nhiệt, ngày mỗi ngày mọc lên những toà nhà cao ngất, những con đường rộng thênh thang. Song, những tên gọi thân thương như ô Đông Mác, ô Cầu Dền, ô Cầu Giấy vẫn tồn tại, nó như những nốt nhạc vui hoài niệm về cố đô trong tầm thức mỗi người dân nước Việt mỗi khi nhớ về Thăng Long – Hà Nội với lịch sử ngàn năm.
Phúc Quang